Nửa năm 1918 tình hình nước Đức như thế nào

Tình hình nước Đức trong những năm 1918-1923 có những điểm nào nổi bật ?

Show

Đề bài

Tình hình nước Đức trong những năm 1918 - 1923 có những điểm nào nổi bật?

Phương pháp giải - Xem chi tiết

Dựa vào sgk Lịch sử 11 trang 64, 65 để trả lời.

Lời giải chi tiết

Trong những năm 1918 - 1923 nước Đức có những điểm nổi bật:

* Thứ nhất, những khó khăn của nước Đức sau chiến tranh:

- Đức là nước bại trận, chịu nhiều tổn thất nặng nề: kinh tế, chính trị và quân sự hoàn toàn suy sụp.

- Mâu thuẫn xã hội ngày càng gay gắt dẫn tới bùng nổ cuộc cách mạng dân chủ tư sản tháng 11-1918

- Tháng 6-1919, Đức kí Hoà ước Véc-xai với những điều khoản hết sức nặng nề. Điều này đã làm cho nước Đức vốn đã kiệt quệ nay càng thêm rối loạn.

* Thứ hai, phong trào cách mạng dâng cao.

- Tháng 11-1918, cách mạng dân chủ tư sản bùng nổ. Mùa hè năm 1919, nền cộng hoà Vaima ra đời.

- Tháng 12-1918, Đảng Cộng Sản Đức thành lập, trực tiếp lãnh đạo phong trào.

- Đỉnh cao của phong trào là cuộc nổi dậy của công nhân vùng Ba-vi-e (4-1919), dẫn đến sự thành lập nước Cộng hoà Xô viết Ba-vi-e.

- Tháng 10-1923, công nhân Hăm-buốt khởi nghĩa vũ trang nhưng thất bại.

Loigiaihay.com

  • Nửa năm 1918 tình hình nước Đức như thế nào

    Hình 32 (SGK Lịch sử trang 64) nói lên điều gì?

    Giải bài tập câu hỏi thảo luận số 2 trang 65 SGK Lịch sử 11

  • Nửa năm 1918 tình hình nước Đức như thế nào

    Tình hình nước Đức trong những năm 1924-1929 như thế nào?

    Giải bài tập câu hỏi thảo luận số 3 trang 65 SGK Lịch sử 11

  • Nửa năm 1918 tình hình nước Đức như thế nào

    Vì sao chủ nghĩa phát xít thắng thế ở Đức?

    Giải bài tập câu hỏi thảo luận trang 66 SGK Lịch sử 11

  • Nửa năm 1918 tình hình nước Đức như thế nào

    Qua bảng thống kê trang 67, hãy nhận xét về tình hình kinh tế Đức so với một số nước châu Âu

    Giải bài tập câu hỏi thảo luận trang 68 SGK Lịch sử 11

  • Nửa năm 1918 tình hình nước Đức như thế nào

    Trình bày ngắn gọn các giai đoạn phát triển của nước Đức giữa hai cuộc chiến tranh thế giới.

    Giải bài tập 1 trang 68 SGK Lịch sử 11

  • Nửa năm 1918 tình hình nước Đức như thế nào

    Tại sao thực dân Pháp chọn Đà Nẵng làm mục tiêu tấn công đầu tiên ?

    Giải bài tập câu hỏi thảo luận số 1 trang 109 SGK Lịch sử 11

  • Nửa năm 1918 tình hình nước Đức như thế nào

    Tại sao khởi nghĩa Hương Khê được coi là cuộc khởi nghĩa tiêu biểu nhất của phong trào Cần Vương ?

    Giải bài tập câu hỏi thảo luận số 2 trang 133 SGK Lịch sử 11

  • Nửa năm 1918 tình hình nước Đức như thế nào

    Nêu tình hình Việt Nam giữa thế kỉ XIX, trước cuộc xâm lược của thực dân Pháp.

    Giải bài tập câu hỏi thảo luận trang 107 SGK Lịch sử 11

  • Nửa năm 1918 tình hình nước Đức như thế nào

    Những nguyên nhân nào khiến cho cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược của quân dân ta từ năm 1858 đến năm 1884 thất bại ?

    Giải bài tập 2 trang 123 SGK Lịch sử 11

Tình hình nước Đức trong những năm 1918 – 1923 có những điểm nào nổi bật?

Xem lời giải

Bài 12: Nước Đức giữa hai cuộc chiến tranh thế giới (1918 - 1939)

Trả lời câu hỏi trang 65 Lịch Sử 11 Bài 12

- Tình hình nước Đức trong những năm 1918 – 1923 có những điểm nào nổi bật?

- Hình 32 nói lênđiều gì?

Nửa năm 1918 tình hình nước Đức như thế nào

-Tình hình nước Đức trong những năm 1924 – 1929 như thế nào?

Lời giải

* Tình hình nước Đức trong những năm 1918 – 1923:

- Là nước bại trận,chịu nhiều tổn thất nặng nề: kinh tế, chính trị và quân sự sụp đổ. Mâu thuẫn xã hội ngày càng gay gắt dẫn tới bùng nổ cuộc cách mạng dân chủ tư sản tháng 11-1918

- Tháng 6-1919, Đức kí Hoà ước Véc-xai với những điều khoảng hết sức nặng nề

- Tháng 11-1918, cách mạng dân chủ tư sản bùng nổ. Mùa hè 1919 nền cộng hoà Vaima ra đời

- Đảng Cộng Sản Đức (thành lập vào tháng 12-1918) đã trực tiếp lãnh đạo phong trào

- Trong bối cảnh đó, phong trào cách mạng tiếp tục dâng cao trong những năm 1919-1923

- Đỉnh cao phong trào là cuộc nổi dậy của công nhân vùng Ba-vi-e tháng 4-1919, dẫn đến sự thành lập nước Cộng Hoà Xô Viết Ba-vi-e

- 10-1923, công nhân Ham-buốt khởi nghĩa vũ trang nhưng thất bại.

* Hình 32 nói lên rằng:

- NướcĐức lâm vào cuộc khủng hoảng kinh tế, tài chính tồi tệ chưa từng thấy.Đồng mác sụt giá nghiêm trọng (năm 1914 1đôla Mĩ tươngđươngvới 4,2 mác, tháng 9-1923: 1đôla Mĩ tươngđương 98 860 000 mác).

* Tình hình nước Đức trong những năm 1924 – 1929:

Cuối năm 1923, nước Đức đã vượt qua thời kì khủng hoảng kinh tế và chính trị sau chiến tranh, dần dần khôi phục và ổn định

- Kinh tế: Khôi phục và nâng cao năng lực sản xuất, sản xuất công nghiệp đứng đầu Châu Âu

- Chính trị: Chế độ Cộng hoà Vai-ma được củng cố, quyền lực của giới tư bản cầm quyền được tăng cường. Chính phủ tư sản thì hành chính sách đàn áp phong trào đấu tranh của công nhân. Các Đảng tư sản công khai tuyên truyền tư tưởng phục thù cho Đức.

- Đối ngoại: Vị trí quốc tế dần dần được phục hồi, gia nhập Hội Quốc liên, kí kết một số hiệp ước với các nước tư bản Châu Âu và Liên Xô.

Xem toàn bộ Soạn sử 11: Bài 12. Nước Đức giữa hai cuộc chiến tranh thế giới (1918 - 1939)

Mục lục

  • 1 Mục đích
  • 2 Quy mô, tính chất
  • 3 Nguyên nhân, bản chất chiến tranh
    • 3.1 Chủ nghĩa đế quốc và sự tranh giành thuộc địa
    • 3.2 Liên minh quân sự, chạy đua vũ trang, quân phiệt
    • 3.3 Chủ nghĩa dân tộc
    • 3.4 Chiến tranh là tất yếu?
    • 3.5 Các quan tâm quyền lợi
      • 3.5.1 Các nước tham chiến
      • 3.5.2 Các nước đồng tham chiến khác
      • 3.5.3 Các nước trung lập có liên quan
  • 4 Trình tự tham chiến
  • 5 Diễn biến
    • 5.1 1914: Đức phải chiến đấu trên 2 mặt trận
      • 5.1.1 Mặt trận phía Tây
      • 5.1.2 Mặt trận phía Đông
      • 5.1.3 Diễn biến ở các chiến trường khác trong năm 1914
    • 5.2 1915 – 1916: Đức chủ động tấn công
      • 5.2.1 Mặt trận phía Đông 1915 – 1916
      • 5.2.2 Mặt trận phía Tây 1915 - 1916
      • 5.2.3 Tại các mặt trận phía Nam 1915 – 1916
    • 5.3 1917: Năm bản lề
      • 5.3.1 Quân Anh-Pháp-Nga chuyển sang tấn công
      • 5.3.2 Chiến tranh tàu ngầm không hạn chế
      • 5.3.3 Hoa Kỳ tham chiến
      • 5.3.4 Cách mạng tại Nga, Nga ra khỏi chiến tranh
    • 5.4 1918:Phe Trung tâm thua trận
      • 5.4.1 Cuộc tấn công mùa xuân của Đức
      • 5.4.2 Đồng minh tấn công tổng lực thắng lợi
      • 5.4.3 Cách mạng tại Đức
      • 5.4.4 Phe Trung tâm đầu hàng
  • 6 Đặc điểm chiến tranh trong thế chiến thứ nhất
    • 6.1 Chiến tranh trên bộ
    • 6.2 Chiến tranh trên biển, trên không
    • 6.3 Các vũ khí mới
  • 7 Hậu quả của chiến tranh
    • 7.1 Ảnh hưởng kinh tế, địa - chính trị
    • 7.2 Ảnh hưởng tâm lý - xã hội
  • 8 Những bài học chính trị của Chiến tranh thế giới thứ nhất
  • 9 Xem thêm
  • 10 Ghi chú
  • 11 Chú thích
  • 12 Tham khảo
  • 13 Liên kết ngoài

Mục đích

Đây là một cuộc chiến để lập lại trật tự thế giới mới, nó làm sụp đổ 4 đế chế hùng mạnh của châu Âu và thế giới lúc đó là Đế quốc Nga, Đế chế Đức, Đế quốc Áo-Hung và Đế quốc Ottoman, làm thay đổi sâu sắc bộ mặt của châu Âu và thế giới. Tuy nhiên mặc dù là cuộc chiến đẫm máu và khốc liệt như vậy nhưng cuộc chiến này đã không giải quyết được các mâu thuẫn gốc rễ và "thế giới mới" mà nó tạo ra còn đặt châu Âu và thế giới trước các vấn đề và mâu thuẫn khác còn trầm trọng hơn như phát sinh nhà nước theo Chủ nghĩa Cộng sản tại Nga, Chủ nghĩa quân phiệt và Chủ nghĩa phát xít tại Ý, Đức và Nhật, sự chia cắt, xâm phạm quyền tự quyết của các dân tộc... Những vấn đề đó sẽ dẫn đến bùng nổ Chiến tranh thế giới thứ hai. Đó là lý do một số nhà nghiên cứu cho rằng Chiến tranh thế giới thứ hai chỉ là sự nối tiếp của Chiến tranh thế giới thứ nhất sau gần 20 năm tạm nghỉ lấy sức.

Chiến tranh thế giới thứ nhất xảy ra giữa 2 khối liên minh quân sự được hình thành sau thế kỷ XIX: 1 bên là liên minh 3 đế quốc Anh - Pháp - Nga, hay được gọi là khối Hiệp ước Entente ba bên (trong tiếng Pháp entente có nghĩa là sự đồng thuận, hiệp ước) sau này còn thêm Hoa Kỳ và một số nước khác tham gia; bên kia là phe Liên minh Trung tâm (Central Powers, hay còn gọi là Liên minh 3 nước) gồm Đức, Áo – Hung và Ottoman.

Tuy nhiên sau đó Ý chiến đấu bên phía Entente 3 bên nhưng Liên minh Trung tâm lại có thêm đồng minh là Đế quốc Ottoman và Bulgaria. Trong khi vai trò của các đồng minh chính trong Entente 3 bên khá đồng đều trong việc gánh vác sức nặng chiến tranh thì ở bên phía Liên minh Trung tâm vai trò các đồng minh chính là mờ nhạt hơn, chỉ Đức có vai trò trụ cột vì thực tế mâu thuẫn chủ yếu gây nên chiến tranh là gắn liền với tham vọng chính trị kinh tế của đế quốc Đức lúc đó. Lúc bấy giờ, 2 cường quốc quân sự hùng mạnh nhất của châu Âu là Đức và Anh.[26]

Quy mô, tính chất

Các nước tham chiến tại châu Âu. Hình dáng tiểu bang Illinois nằm ở bên trái để có thể so sánh diện tích.

Khối Trung tâm (Central Powers)

Khối Hiệp ước (Entente Powers)

Các nước trung lập

Về khía cạnh chính trị – quân sự đây là lần đầu tiên thế giới biết đến 1 kiểu chiến tranh tổng lực, chiến tranh toàn diện. Chiến tranh diễn ra không những ác liệt trên bộ, trên không, trên biển mà các bên thực hiện bao vây bóp nghẹt kinh tế của nhau, đánh vào ý chí và bản lĩnh chịu đựng của dân tộc, thử thách tiềm lực kinh tế và sức mạnh tinh thần của đối phương. Các cường quốc như Đế quốc Nga, Đế quốc Áo-Hung và Đế quốc Đức đã thất bại và sụp đổ dù quân đội của họ vẫn còn hiện hữu (đặc biệt quân đội Đức vẫn còn đang trên đất đối phương, và quân địch còn chưa xâm phạm tới lãnh thổ của họ). Các nước này đã thua trận vì xã hội kiệt sức, không thể kham nổi chiến tranh – 1 kiểu chiến tranh tiêu hao với cường độ cực cao, khiến chính phủ của họ bị các lực lượng trong nước lật đổ.

Chiến tranh thế giới thứ nhất diễn ra theo 1 kiểu chiến lược chiến tranh hiện đại. Trước đây châu Âu đã từng có các cuộc chiến theo liên minh nhiều nước như Chiến tranh Kế vị Tây Ban Nha, Chiến tranh Kế vị Áo, Chiến tranh Bảy năm, Chiến tranh Napoléon, v.v... Nhưng những cuộc chiến đó có kết quả chiến tranh phụ thuộc vào 1 hoặc vài trận đánh lớn có tính quyết định diễn ra trong 1-2 ngày tại 1 điểm quyết chiến hoặc một vài chiến dịch trong vài tuần hoặc một vài tháng, các hoạt động chiến sự xen kẽ với hoà bình. Kết cục chiến tranh không triệt để: thua trận thì ký hoà ước nhượng bộ, chờ vài năm hồi phục tiềm lực rồi lại tham chiến tiếp (điển hình như các cuộc chiến thời Napoléon I). Các cuộc chiến đó phụ thuộc rất nhiều, nếu không nói là phần lớn, vào tài thao lược của nhà cầm quân. Còn từ nay, kể từ Thế chiến I, lần đầu tiên nhân loại chứng kiến một kiểu chiến tranh lâu dài, quy mô, huỷ diệt. Chiến sự dàn trải trên khắp chiến trường, khắp cả châu lục. Vai trò cá nhân của thống soái trong chiến tranh bị hạn chế mà tiềm lực kinh tế và ý chí, sức mạnh tinh thần của quốc gia nổi lên là yếu tố quyết định.

Trên chiến trường về khía cạnh thuần tuý quân sự đây là một cuộc chiến tranh đã có các đặc trưng hiện đại: quân đội là quân đội đông đảo. Lần đầu tiên trên thế giới chiến tranh theo chiến thuật đội hình tản mác không còn các khối quân lực xếp hàng tấn công và phòng thủ theo đội hình ô vuông dày đặc rất đặc trưng của mọi cuộc chiến tranh trước đây. Cuộc chiến tranh này đặc trưng áp đảo bởi hình thức chiến tranh trận địa mà điển hình nhất là hệ thống chiến hào trở thành phương tiện phòng thủ chính yếu, thành quách pháo đài đã không còn vai trò phòng ngự quan trọng nữa. Các bên phòng thủ trong chiến hào với hệ thống ụ súng máy, dây thép gai, bãi mìn và trận địa pháo dày đặc với chiến tuyến ngăn đôi giữa 2 phía đối địch. Chiến tranh trận địa hay chiến tranh chiến hào ở thời kỳ đó thường có tính chất là rất khó tấn công và rất dễ phòng thủ nên chiến tranh có diễn biến chậm chạp ít năng động, ít có các chiến thắng quân sự dứt khoát. Kết cục chiến tranh phụ thuộc vào sự chịu đựng dẻo dai của các bên đối kháng đối với gánh nặng chiến tranh tiêu hao tổng lực.

Nguyên nhân, bản chất chiến tranh

Xem bài chính: Vụ ám sát thái tử Áo-Hung.

Sự việc Đại công tước Franz Ferdinand của Áo - Hung bị một phần tử dân tộc chủ nghĩa người Serbia tên là Gavrilo Princip ám sát tại Sarajevo vào ngày 28 tháng 6 năm 1914 được coi là khởi nguồn của cuộc thế chiến này, nhưng thực ra đó chỉ là "giọt nước tràn ly". Vụ ám sát thái tử Áo-Hung chỉ là cái cớ để các bên chính thức khai chiến sau một thời gian dài chạy đua vũ trang nhằm chuẩn bị chiến tranh. Chiến tranh là "phải nổ ra" do mâu thuẫn giữa các quốc gia ở châu Âu đã chín muồi, các bên tham chiến từ trước đó khá lâu đã có các mâu thuẫn đối kháng với nhau, và muốn triệt hạ nhau bằng quân sự để phân chia lại thế giới.

Nguyên nhân và bản chất của chiến tranh này là rất phức tạp, đa diện, nhưng có thể được tổng kết như sau:

Chủ nghĩa đế quốc và sự tranh giành thuộc địa

Lenin và những người Bolshevik, cùng một phần lớn những người xã hội chủ nghĩa của châu Âu phân tích có cơ sở rằng chiến tranh là mâu thuẫn của sự phát triển của các nước chủ nghĩa đế quốc cầm đầu ở châu Âu và chiến tranh có tính chất chiến tranh đế quốc: đó là cuộc chiến nhằm tranh giành, phân chia lại thuộc địa giữa các nước đế quốc, là cuộc chiến tranh phi nghĩa đối với tất cả các phe tham chiến.

Tranh biếm họa về các nước Anh, Đức, Nga, Pháp, và Nhật tranh nhau chiếm thuộc địa ở Trung Quốc. Trong bức tranh, vua nước Đức Wilhelm II (đội mũ chóp nhọn) tỏ thái độ căm ghét rõ ràng với nữ hoàng Anh Victoria

Theo phân tích của Lenin, nguyên nhân chiến tranh bắt nguồn ngay từ giữa thế kỷ XVI: ở thời điểm này, các nước châu Âu bắt đầu hình thành Chủ nghĩa tư bản. Để tìm kiếm tài nguyên và lợi nhuận, các nước thực dân châu Âu bắt đầu bành trướng lãnh thổ, đem quân xâm chiếm các nước châu Á, châu Phi để biến các nước này thành thuộc địa. Đến cuối thế kỷ XIX, về cơ bản thì tất cả châu Á, châu Phi đã bị biến thành thuộc địa. Nhưng sự phân chia thuộc địa giữa các nước châu Âu là rất không đồng đều. Anh-Pháp là 2 nước đã xâm chiếm thuộc địa từ khá sớm nên chiếm được rất nhiều thuộc địa, trong khi các nước châu Âu khác thì chiếm được ít hơn nhiều.

Đến cuối thế kỷ XIX, sự lớn mạnh của Đế quốc Đức sau Chiến tranh Pháp-Phổ đã đẩy mạnh những tham vọng chiếm lĩnh thuộc địa và chia lại thị trường thế giới của nước này. Đến đầu thế kỷ XX, Đế quốc Đức đã vượt qua Anh, Pháp để trở thành cường quốc công nghiệp đứng đầu châu Âu và đứng thứ 2 trên thế giới (sau Mỹ). Nhưng trong cuộc chạy đua giành giật thuộc địa, Đức lại là nước chậm chân, bởi đến cuối thế kỷ XIX, hầu hết châu Á và châu Phi đã bị Anh, Pháp chiếm làm thuộc địa. Năm 1913, tổng diện tích các thuộc địa của Đức chỉ là 2,9 triệu km2, trong khi nước Anh có tới 34 triệu km2, Pháp có gần 13 triệu km2. Do quy mô thuộc địa không tương xứng với tiềm lực công nghiệp (ít thuộc địa thì tức là có ít tài nguyên và thị trường tiêu thụ), Đức là nước hiếu chiến nhất trong thời kỳ này. Ngoài ra, nước Đức chịu ảnh hưởng sâu sắc của truyền thống quân phiệt Phổ: đề cao chủng tộc Đức, tích cực truyền bá tinh thần kỷ luật quân đội, chạy đua vũ trang. Lenin đã tổng kết đặc trưng của nước Đức thời kỳ này là "Chủ nghĩa đế quốc quân phiệt, hiếu chiến".

Nhưng tham vọng của Đức gặp phải sự phản kháng của các nước "đế quốc già" là nước Anh, Pháp và Nga. Các "đế quốc già" này về cơ bản đã chiếm lĩnh gần hết những thuộc địa bao la khắp thế giới và muốn duy trì quyền thống trị của mình, không muốn "chia phần" cho những thế lực mới nổi như Đức. Đế quốc Áo–Hung và Đế quốc Ottoman từ lâu đã suy yếu, nhưng vẫn muốn có đủ "tư cách" và vai trò để tranh giành ảnh hưởng trong khu vực Trung Âu, Balkan và Kavkaz. Các cường quốc khác can thiệp vào khu vực đó để tranh giành ảnh hưởng với nhau...

Do có cùng mục tiêu tranh giành thuộc địa với Anh-Pháp, nước Đức đã cùng Áo - Hung, Italia thành lập "phe Liên Minh" vào năm 1882 để chuẩn bị chiến tranh chia lại thế giới. Để đối phó, Anh đã ký với Nga và Pháp những Hiệp ước tay đôi hình thành phe Hiệp ước (đầu thế kỷ XX). Từ đó, ở châu Âu đã hình thành 2 khối quân sự đối đầu nhau. 2 bên ra sức chạy đua vũ trang, chuẩn bị cho chiến tranh. Một cuộc chiến tranh đế quốc nhằm phân chia thuộc địa trên thế giới không thể tránh khỏi.

Sự mâu thuẫn mang tính chất đế quốc chủ nghĩa đòi hỏi một cuộc "chém giết lớn" để phân định lại ngôi thứ và lập lại trật tự thế giới, theo đó các thế lực mới nổi (đứng đầu là Đế quốc Đức) mong muốn đánh bại các thế lực cũ (Anh, Pháp, Nga) để chiếm lấy thuộc địa của kẻ thua.

Mặt khác, việc phát động chiến tranh của các nước đế quốc còn nhằm đối phó với những bất ổn trong nội bộ quốc gia. Đầu thế kỷ XX, phần lớn giai cấp lao động ở các nước bị bóc lột nặng nề, đời sống rất khốn khó (công nhân thường xuyên phải làm việc 12 giờ/ngày, đồng lương lại thấp, việc sa thải diễn ra bừa bãi, trẻ em 12 tuổi đã phải đi làm công nhân phụ giúp cha mẹ...). Sự áp bức đó tạo ra mâu thuẫn gay gắt giữa người lao động với chủ tư bản, nhiều quốc gia đã tiềm ẩn phong trào cách mạng (đặc biệt là ở Nga, Đức và Áo-Hung). Việc phát động chiến tranh sẽ kích thích tinh thần ái quốc của người dân, làm họ quên đi các vấn đề trong nước và xoa dịu mâu thuẫn trong lòng các nước đế quốc.

Liên minh quân sự, chạy đua vũ trang, quân phiệt

Từ nguyên nhân mâu thuẫn lợi ích, sự thèm muốn tranh giành thuộc địa đã dẫn tới một nhóm nguyên nhân khác cũng được các nhà nghiên cứu chỉ ra, là hệ thống các liên minh quân sự, sự chạy đua vũ trang và Chủ nghĩa quân phiệt của các đế chế:

  • Liên minh quân sự theo khối: Trong các mâu thuẫn và tương đồng quyền lợi, các quốc gia tìm kiếm lôi kéo các nước có cùng lợi ích để thành lập các hiệp ước liên minh quân sự để tăng cường thế lực, bành trướng ảnh hưởng. Việc này làm cho tình hình thế giới càng trở nên cực kỳ căng thẳng vì bất cứ 1 xung đột quốc gia nào đều có thể trở thành xung đột quốc tế, điều này là rất điển hình cho Thế chiến I. Và thực tế cho thấy từ một sự kiện ám sát có tính dân tộc trong Đế chế Áo - Hung, mâu thuẫn đã được cộng hưởng, khuếch đại và trở thành chiến tranh thế giới.

Lính Áo trên chiến trường

  • Chạy đua vũ trang: điển hình là trước thế chiến, Anh cho hạ thuỷ lớp chiến diệt hạm Dreadnought với các tính năng chiến đấu cách mạng trên biển, tạo nên chạy đua vũ trang quyết liệt giữa Anh và Đức. Việc các quốc gia chạy đua vũ trang để duy trì và giành ưu thế quân sự trên bộ và trên biển dẫn đến sự phản ứng tương ứng của phía đối địch. Kết quả là cả hai phe đều cảm thấy bị đe doạ từ phía bên kia và lại càng chạy đua vũ trang và lại bị đe doạ ở mức độ mới cao hơn. Đây cũng là 1 nguyên nhân gây nên chiến tranh.
  • Chủ nghĩa quân phiệt: tại các quốc gia quân chủ chuyên chế như Đế quốc Nga, Đế chế Đức, Đế quốc Áo - Hung và Đế quốc Ottoman và cả ở các quốc gia khác thì tầng lớp quân nhân, tướng lĩnh có một thế lực và ảnh hưởng rất lớn. Họ không hề bị kiểm soát bởi các thiết chế dân chủ, lại rất gần gũi Hoàng đế và luôn có xu hướng hiếu chiến và tinh thần ái quốc mãnh liệt của Chủ nghĩa Sôvanh (chauvinism).

Chủ nghĩa dân tộc

Sau thế kỷ XIX tại châu Âu khi những giá trị tự do cá nhân và quyền tự quyết của cá nhân được nhận thức thì hiển nhiên nhận thức về quyền dân tộc tự quyết của các dân tộc đang bị điều khiển bởi các dân tộc cường quốc sẽ trỗi dậy và gặp phải sự ngăn trở của các dân tộc khác. Sự thức tỉnh tình cảm dân tộc thường đi kèm với Chủ nghĩa Sôvanh và trên con đường tìm vị thế của mình các dân tộc nhỏ thường tìm sự bảo trợ của các đồng minh lớn để chống lại các kẻ thù cận kề. Điều đó dẫn đến các xung đột được tích luỹ và chiến tranh là cách giải toả cuối cùng.

Chủ nghĩa dân tộc là nguyên nhân chính của vụ ám sát thái tử Áo-Hung tại Bosnia. Sau cuộc chiến Nga-Thổ 1878, Nga có ảnh hưởng lớn ở Balkan. Áo-Hung lại điều khiển chính phủ ở Bosnia và năm 1908 thì gạt Thổ Nhĩ Kỳ ra khỏi đây, nắm toàn bộ ảnh hưởng ở Bosnia. Nga vận động các nước còn lại trên bán đảo Balkan lập ra Liên minh Balkan hi vọng khối này sẽ đẩy lùi Áo-Hung. Nhưng do những mâu thuẫn trước kia đối với Đế chế Ottoman, khối này đã không chống lại Áo-Hung mà gây Chiến tranh Balkan lần thứ nhất 1912-1913 với Thổ Nhĩ Kỳ. Song do sự phân chia quyền lợi không đều, Chiến tranh Balkan lần thứ hai 1913 lại bùng phát, và Bulgaria là nước bại trận. Đến năm 1914, Thổ Nhĩ Kỳ gần như chỉ có 1 ít ảnh hưởng ở bán đảo này, chủ yếu ở Albania. Áo-Hung lại trở thành kẻ thù lớn của Liên minh Balkan. Serbia, nước theo chủ nghĩa dân tộc mạnh mẽ nhất tại Balkan lúc này đã vận động Chủ nghĩa dân tộc Bosnia là nước có chung đường biên giới với Serbia để đánh đuổi Áo-Hung ra khỏi Balkan. Một phần tử được trợ giúp bởi tổ chức dân tộc Bàn tay đen của Serbia đã ám sát hoàng tử Áo-Hung vào 28 tháng 6 năm 1914. Sau đó, Áo-Hung đe dọa Serbia và 1 tháng sau, Áo-Hung tuyên bố chiến tranh với Serbia vào ngày 28 tháng 7 năm 1914.

Chiến tranh là tất yếu?

Trong các học giả thế giới khi đề cập nguyên nhân chiến tranh có xuất hiện câu hỏi: Liệu có thể tránh được cuộc chiến tranh này không? Với những nguyên nhân khách quan và chủ quan như vậy thì ở tầm quốc tế và lịch sử nhân loại có thể nói: với trình độ giác ngộ chính trị của nhân loại vào đầu thế kỷ XX, khi tư duy chính trị vẫn là tư duy nước lớn, tư duy đế quốc Chủ nghĩa, khi cách tiếp cận các vấn đề quốc tế luôn theo nguyên tắc "tối đa quyền lợi cho mình, tối thiểu cho đối phương" thì Chiến tranh thế giới thứ nhất là "phải xảy ra và không thể tránh được". Cuộc chiến này sẽ cùng với Chiến tranh thế giới thứ hai sẽ tập cho nhân loại phải suy nghĩ theo kiểu tư duy mới là "cùng tồn tại hoà bình, các bên cùng có lợi". Để nhận thức được như vậy nhân loại phải trả giá gần cả trăm triệu mạng người trong 2 cuộc đại chiến và các cuộc chiến khác trong thế kỷ XX. Đó là bài học chính trị quý giá nhất của đại chiến mà nhiều khi nơi này hay nơi khác bài học đó vẫn còn bị "lãng quên".

Các quan tâm quyền lợi

Các nước tham chiến

  • Anh: Chặn đứng tham vọng tranh giành thuộc địa, chia lại thị trường của Đế chế Đức. Ngăn cản ảnh hưởng của nước này, cố gắng giới hạn Đức trong phạm vi châu Âu không để nước này thành cường quốc đại dương đe dọa quyền lợi thương mại thuộc địa của mình. Hạ cấp Đế quốc Ottoman và Đế quốc Áo - Hung xuống thành những cường quốc hạng 2 để chiếm lĩnh quyền lợi tại khu vực Trung Cận Đông rất nhiều dầu mỏ.
  • Pháp: Cũng giống như Anh nhưng ngoài ra còn để phục thù Chiến tranh Pháp-Phổ 1870-1871 quyết giành lại 2 tỉnh Alsace và Lorraine từ Đức. Hạ bậc Đế quốc Đức để trừ mối hoạ sau này (sau chiến tranh phía Pháp đề nghị trong Hội nghị Versailles một hình thức bồi thường chiến phí khủng khiếp để Đức không bao giờ ngóc đầu dậy được).
  • Nga: Loại bỏ sự can thiệp và ảnh hưởng của Đức tại Ba Lan, Ukraina và vùng Baltic, loại bỏ sự cản trở của Đế quốc Ottoman khỏi Kavkaz và Balkans và loại bỏ sự xuất hiện của Áo-Hung tại Balkan. Xâm chiếm các vùng ảnh hưởng của Ottoman và Áo-Hung.
  • Đức: Thoát khỏi sự kiềm tỏa của Anh-Pháp, đòi hỏi 1 thị trường, thuộc địa tương xứng với tiềm lực cường quốc thế giới của mình. Mở rộng vùng ảnh hưởng của mình về phía Đông tại Ba Lan, Ukraina, Baltic, sau đó là Phần Lan.
  • Áo – Hung: Nỗ lực cuối cùng chứng tỏ mình còn là 1 cường quốc, cố giữ lại những gì còn giữ được trước sự nhòm ngó của các cường quốc khác. 2 địch thủ trước mắt của Áo – Hung là Nga và Ý.
  • Ý: 1 cường quốc đang lên nhưng chưa định hình, muốn có 1 vai trò và tiếng nói lớn hơn ở châu Âu và đặc biệt tại Balkans. Trở lực chính của nước này đầu tiên là Anh sau đó định hướng lại chĩa mũi nhọn đấu tranh vào Áo - Hung.
  • Ottoman: Là 1 đế chế lâu đời và lạc hậu ở Trung Cận Đông bị chèn ép ở Cận Đông (Anh, Pháp) và tại Kavkaz và Balkans (Nga). Đây là nỗ lực cuối cùng để duy trì đế chế.
  • Nhật Bản: Cũng là 1 cường quốc đang lên. Sau Chiến tranh Nga-Nhật, Nhật Bản trở thành cường quốc và có tham vọng được xâm chiếm cả Trung Quốc, gây ảnh hưởng ở Đông Nam Á. Sau khi ký kết Hiệp ước Anh-Nhật 1902, Nhật Bản chĩa súng vào Đức và Áo-Hung.

Ngoài ra các đế quốc quân chủ Nga, Đức, Ottoman, Áo-Hung, Nhật Bản muốn dùng chiến thắng trong chiến tranh với tinh thần yêu nước dâng cao để trì hoãn cải cách dân chủ, xã hội trong nước.

Các nước đồng tham chiến khác

  • Hoa Kỳ: Giống như Ý và Nhật, Hoa Kỳ cũng là 1 cường quốc đang nổi. Hoa Kỳ muốn có ảnh hưởng lớn hơn trên thế giới, và yêu cầu các nước tôn trọng quyền lợi của Hoa Kỳ trên toàn cầu, trong đó có cả châu Âu, châu Á và châu Phi. Đức và Anh không ủng hộ lắm về việc này. Ban đầu Hoa Kỳ không tham chiến, chỉ đứng ngoài bán vũ khí thu lợi nhuận. Nhưng đến cuối năm 1917, nhận thấy nếu Đức thắng lợi thì các quyền lợi của Hoa Kỳ ở châu Âu sẽ bị đe dọa, nước này quyết định tham chiến cùng Anh và Pháp.
  • Brazil: Từng là 1 đế quốc, song Brazil vẫn không từ bỏ tham vọng được gây ảnh hưởng trên thế giới. Brazil đã có ý định can thiệp vào chiến tranh từ năm 1914, nhưng phải chờ khi Hoa Kỳ tuyên chiến, thì Brazil mới vào cuộc.
  • Romania: Là 1 quốc gia được Nga giải phóng khổi ách cai trị của người Thổ, Romania có tham vọng được tham chiến cùng Nga trong chiến tranh. Romania muốn có ảnh hưởng ở vùng Transilvania vốn đang bị kiểm soát bởi Áo-Hung và gây ảnh hưởng lên các nước Balkan khác và giành lấy vùng Wallachia khỏi tay người Áo-Hung.
  • Bulgaria: Là nước mạnh nhất vùng Balkan. Bulgaria nung nấu tham vọng phục thù sau Chiến tranh Balkan lần 2 bằng việc đòi lại quyền lợi ở Macedonia và bán đảo Tiểu Á.
  • Hy Lạp: Muốn chiếm lại đảo Síp và cố đô Constantinople-những vùng đất đã mất dưới tay người Thổ.
  • Bồ Đào Nha: Theo Anh, không muốn chia thị trường cho Đức.
  • Bỉ: Có quyền lợi giống như Anh, nhưng do lãnh thổ nhỏ và dân số ít nên chấp nhận trung lập. Song vì Đức xâm lược nên Bỉ tuyên chiến. Ngoài ra Bỉ còn muốn giành lấy phần còn lại của vùng Wallonie khỏi tay Đức.
  • Serbia: Là nước mang nặng Chủ nghĩa dân tộc nhất vùng Balkan. Serbia muốn chiếm toàn bộ Balkan, chủ yếu là Bosnia, Croatia và Slovenia khỏi tay Áo-Hung.

Các nước trung lập có liên quan

  • Tây Ban Nha: Là 1 cựu đế quốc đã suy yếu và khủng hoảng trầm trọng, thậm chí nặng hơn Nga, Tây Ban Nha đã vậy còn thua trận trong chiến tranh với Hoa Kỳ. Khi cận kề chiến tranh, vua Alfonso XIII đã quyết định trung lập. Tuy vậy, Tây Ban Nha dường như khá ủng hộ Đức để phục thù Anh và Hoa Kỳ-những nước có mâu thuẫn gay gắt với Tây Ban Nha trong lịch sử.
  • México: Là quốc gia có biên giới chung với Hoa Kỳ. Sau Chiến tranh Hoa Kỳ-México, México đã bị Hoa Kỳ cướp mất một phần lãnh thổ lớn ở phía Bắc mà ngày nay đã sáp nhập vào Hoa Kỳ. México có tham vọng trả thù Hoa Kỳ nên đã dẫn đến xung đột. Tuy nhiên, cuộc Cách mạng Mexico đã khiến Mexico lục đục, dẫn đến 2 phe phái thân Mỹ-Anh và thân Đức, trong đó, Pancho Villa, 1 người theo Chủ nghĩa dân tộc, đã ủng hộ Đức chống lại Hoa Kỳ trong khi phe chính phủ của Porfirio Díaz và sau đó là Victoriano Huerta thì ủng hộ Anh-Mỹ.
  • Hà Lan: Là 1 đế quốc già và ốm yếu, nhưng Hà Lan đã tránh xung đột thành công với Đức và sau đó là Anh. Khi gần xảy ra xung đột giữa Anh và Đức, Hà Lan, bất chấp được Anh mời chào, vẫn tuyên bố trung lập.
  • Thụy Điển: Giống Brazil, Thụy Điển là 1 cựu đế quốc, song lại thiếu tham vọng. Khi gần chiến tranh, Thụy Điển cũng tuyên bố trung lập, song thái độ của Thụy Điển, cùng với Tây Ban Nha, lại khá ủng hộ Đức vì lý do: thù địch dai dẳng với Nga trong lịch sử, chủ yếu về lãnh thổ Phần Lan. Thụy Điển đã cho các tàu chiến và tàu ngầm Đức đóng quân tại các căn cứ hải quân của Thụy Điển.
  • Đan Mạch: Năm 1864, liên quân Áo-Phổ đã đưa quân tấn công Đan Mạch và thắng lớn trong Chiến tranh Schleswig lần hai. Từ đó, Đan Mạch liên tục thù hằn Phổ và sau đó là Đức, nên tuy tuyên bố trung lập, song Đan Mạch vẫn ngầm ủng hộ Anh. Thêm nữa là xích mích với Thụy Điển cũng khiến Đan Mạch thêm thù địch với Đức.
  • Na Uy: Là 1 vương quốc độc lập nhưng lệ thuộc Thụy Điển, Na Uy tỏ ra ủng hộ Thụy Điển hơn so với các nước khác. Khi xảy ra nguy cơ chiến tranh, Na Uy và Thụy Điển tuyên bố trung lập, nhưng ủng hộ Đức.
  • Ba Tư: Ba Tư, dưới sự lãnh đạo của triều đại Pahlavi, đã liên tục bị châu Âu chèn ép. Tuy nhiên, triều đình ở đây lại bị chính phủ Thụy Điển, 1 nước thân Đức, khống chế. Ba Tư muốn đòi lại quyền lợi chính đáng, song do bị Thụy Điển kiểm soát nên liên tục gặp khó khăn.

Trình tự tham chiến

  • 28 tháng 7, 1914: Áo-Hung tuyên chiến với Serbia
  • 29 tháng 7, 1914: Nga kéo quân vào Áo-Hung
  • 1 tháng 8, 1914: Đức tuyên chiến với Nga
  • 3 tháng 8, 1914: Đức tuyên chiến với Pháp
  • 4 tháng 8, 1914: Đức kéo quân vào Vương quốc Bỉ
  • 4 tháng 8, 1914: Anh tuyên chiến với Đức
  • 23 tháng 8, 1914: Nhật Bản tuyên chiến với Đức
  • 29 tháng 10, 1914: Ottoman tấn công Nga
  • 23 tháng 5, 1915: Ý tuyên chiến với Áo-Hung
  • 14 tháng 10, 1915: Bulgari tuyên chiến với Serbia
  • 9 tháng 3, 1916: Đức tuyên chiến với Bồ Đào Nha
  • 6 tháng 4, 1917: Mỹ tuyên chiến với Đức

Diễn biến

Quân Đức tiến công Bỉ năm 1914

Chiến tranh thế giới thứ nhất diễn ra chủ yếu trên 3 chiến trường chính: Mặt trận phía Tây, Mặt trận phía Đông và Mặt trận phía Nam. Trong đó mặt trận phía Tây giữa liên quân Pháp – Anh chống lại quân Đức có vai trò chính yếu quyết định số phận chiến tranh vì ở đây tập trung binh lực lớn nhất có chất lượng cao nhất của cả hai phía. Mặt trận phía Đông là chiến trường giữa quân Nga chống Đức và Áo – Hung, mặt trận này có quy mô và tầm quan trọng không bằng mặt trận phía Tây và quân Nga thường thất bại trước quân Đức nhưng luôn làm quân đội Đức, Áo - Hung phải chiến đấu trên hai mặt trận không thể huy động tổng lực lực lượng khả dĩ cho 1 chiến thắng quyết định trong chiến tranh. Mặt trận phía Nam có tầm quan trọng thấp chủ yếu với 1 lực lượng quân đội nhỏ bé và chỉ có ý nghĩa khu vực. Mặt trận phía Nam lại phân nhỏ thành các chiến trường: Mặt trận Ý-Áo – đối chọi của quân Ý – Áo tại vùng biên giới hai nước; chiến trường Balkan: liên quân Đức, Áo – Hung, Bulgaria chống Serbia và về sau có trợ giúp của Anh, Pháp cho Serbia; chiến trường Trung Cận Đông: Liên quân Anh, Pháp chủ yếu là Anh chống Ottoman; chiến trường Kavkaz: Nga chống Ottoman.

1914: Đức phải chiến đấu trên 2 mặt trận

Ngày 1 tháng 8 năm 1914, Đức tuyên chiến với Nga, ngày 3 tháng 8 với Pháp; ngày 4 tháng 8 Anh tuyên chiến với Đức và đổ bộ vào lục địa. Chiến tranh lớn đã nổ ra.

Mặt trận phía Tây

Ngày 2 tháng 8 năm 1914, quân Đức chiếm Luxembourg và 2 ngày sau tràn vào Bỉ, vi phạm tình trạng trung lập của nước này để lấy đường tiến vào miền Bắc nước Pháp. Kế hoạch Schlieffen của bộ tổng chỉ huy Đức tính toán rằng: cuộc tấn công bất ngờ qua Bỉ đánh thẳng vào Bắc nước Pháp, là khu vực ít bố phòng, sẽ nhanh chóng loại nước này ra khỏi chiến tranh trong vòng 40 ngày, trước khi quân đội Nga kịp tổng động viên và tập hợp; sau khi đánh tan quân Pháp thì Đức sẽ điều quân quay sang mặt trận phía Đông giải quyết quân Nga và kết thúc chiến tranh.

Khi quân Đức xâm chiếm Bỉ, vì lo ngại sự kháng cự của người Bỉ, đặc biệt là từ các tay súng bắn tỉa (franc-tireurs), quân Đức ngay từ ngày đầu tiên ở Bỉ đã mạnh mẽ chống lại người dân bản địa. Ngay từ ngày 05/08, người Đức không chỉ bắt đầu bắn giết thường dân mà còn hành quyết có chủ ý các linh mục người Bỉ, những người mà Bộ Tuyên truyền Đức khẳng định là đã khuyến khích hoạt động bắn tỉa. Tư lệnh Đức Helmuth von Moltke viết cho người đồng cấp ở Áo của ông, Conrad von Hotzendorff, vào ngày 5 tháng 8: “Quá trình tiến quân của chúng ta ở Bỉ chắc chắn là rất tàn bạo. Nhưng chúng ta đang chiến đấu cho sinh mạng của mình và tất cả những ai cản đường phải chịu hậu quả.” Tổng cộng trong gia đoạn tiến công đầu tiên, quân Đức đã giết 5.521 thường dân ở Bỉ và 896 người ở Pháp, cũng vì thế quân Đức bị người Bỉ thù hận và còn làm hại hình ảnh nước Đức trong con mắt của nhiều nhà quan sát nước ngoài.

Kế hoạch Schlieffen là quá sức với Đức: ban đầu quân Đức giành được lợi thế trong các trận đánh biên giới và tiến nhanh về phía Paris hòng đánh chiếm thủ đô nước Pháp, và người Đức sắp sửa giành được chiến thắng lớn nhằm quyết định kết cục chiến tranh. Nhưng khi đi sâu vào đất Pháp, lực lượng Đức dần bị dàn mỏng khiến các chỉ huy quân Đức bắt đầu mắc sai lầm. Ở phía đông, quân Nga cũng bắt đầu tấn công lãnh thổ Đức vào ngày 17 tháng 8, sớm hơn nhiều so với dự kiến của Đức là 40 ngày. Điều này khiến Đức phải rút bớt quân từ mặt trận Pháp để chuyển sang phía đông chặn đánh quân Nga, làm yếu đi lực lượng xung kích đang tấn công vào Pháp.

Thế rồi, trong trận sông Marne lần thứ nhất vào tháng 9 năm 1914 quân Đức đánh bất phân thắng bại với liên quân Pháp - Anh. Quân Đức phải lui binh về cố thủ, quân Pháp quá kiệt quệ nên không thể truy kích, nên cả hai đoàn quân không bên nào có thể giành thế thượng phong. Chiến tranh trên mặt trận phía Tây dần đi vào hình thức chiến tranh chiến hào (Stellungskrieg), và tình hình cứ thế trong suốt 4 năm chiến tranh.[27][28][29] Trận đánh kế tiếp tại Aisne còn khốc liệt hơn cả trận sông Marne, diễn ra từ 13-28 tháng 9 năm 1914. Cả hai bên đều mất hàng chục ngàn binh sĩ, nhưng rồi đây vẫn là 1 trận chiến bất phân thắng bại.[30]

Kế hoạch đánh nhanh thắng nhanh của Đức như vậy là đã bị phá vỡ.

Mặt trận phía Đông

Lính Nga tại Warszawa, nay là thủ đô Ba Lan năm 1914

Để giúp đồng minh đang khó khăn tại mặt trận Pháp – Bỉ, đầu tháng 9 năm 1914 quân đội Nga tổng tấn công trên 2 hướng: Galicia đối đầu với Áo-Hung và đặc biệt là tấn công rất nhanh, mạnh vào Đông Phổ thuộc Đức. Vào ngày 17 tháng 8 năm 1914, quân đội Đức đánh thắng quân Nga trong trận đánh mở đầu tại Stallupönen - 1 chiến thắng nhỏ nhưng có tầm quan trọng về chiến lược.[31] Các cuộc tấn công sau đó của quân Nga đã thắng lợi nhưng thiệt hại nặng về nhân mạng: đánh lui quân đội Đức trong trận Gumbinnen và quân đội Áo – Hung tại Galicia.[32] Đông Phổ có nguy cơ mất vào tay Nga.

Để cứu nguy cho tập đoàn quân số 8 của mình đang phòng thủ Đông Phổ, Đức phải điều bớt những lực lượng xung kích từ phía Tây sang Đông Phổ và kết quả là trong nửa cuối tháng 8, quân Đức do vị tướng Paul von Hindenburg chỉ huy đã đánh tan quân Nga ở trận Tannenberg,[33] Nga mất 30.000 lính và bị bắt 95.000 tù binh, phía Đức chỉ mất 3.436 người chết và 6.800 bị thương. Trận thắng này đã chặn đứng tập đoàn quân số 1 và bao vây tiêu diệt hoàn toàn tập đoàn quân số 2 của phương diện quân Tây Bắc của Nga, tư lệnh tập đoàn quân số 2 là tướng Aleksandr Samsonov buộc phải tự sát, quân Nga bị đuổi khỏi Đông Phổ. Đây là 1 chiến thắng lớn của quân lực Đức trong suốt Đại chiến thứ nhất,[34] có ảnh hưởng lớn đến tinh thần của dân tộc Đức, là trận đánh đáng ghi nhớ trong lòng toàn dân Đức thời đó.[35] Quân Đức cũng đánh bại quân Nga trong trận Lyck vài ngày sau đó.[33] Tuy nhiên, về mặt chiến lược thì cuộc tấn công của Nga đã diễn ra sớm hơn nhiều so với dự tính của Đức, khiến Đức phải rút bớt những lực lượng xung kích từ mặt trận Pháp, qua đó góp phần phá vỡ chiến lược "đánh nhanh thắng nhanh" của Đức và giảm bớt gánh nặng cho quân Anh-Pháp đang bị Đức áp đảo.

Ở phía đông nam thì quân Áo – Hung lại để quân Nga đánh tan nát ở Trận Lemberg (1914). Quân đội Áo - Hung thất bại nặng nề với 450.000 thương vong (100.000 chết, 220.000 bị thương và 130.000 bị bắt làm tù binh), trong khi Nga bị tổn thất khoảng 240.000 người (bao gồm 40.000 bị bắt làm tù binh). Một số người Tiệp Khắc và người Slav không chịu chiến đấu cho quân đội Áo-Hung nên đã ra đầu hàng hàng loạt.[36] Kết thúc năm 1914 tại chiến trường Đông Âu, quân Nga chiếm lĩnh toàn bộ vùng phía đông của Galicia chạy dài tới chân núi Carpathian. Người Nga suýt nữa đã tiến được đến bình nguyên Hungary vào cuối tháng 9 nhưng họ đã dừng tiến quân vì hậu cần gặp khó khăn và bị tổn thất nặng.[37]

Quân Nga rõ ràng chưa chuẩn bị tốt cho chiến tranh, trình độ sĩ quan và binh lính lạc hậu nên không thể chống lại các cuộc tấn công có tổ chức tốt của Đức, nhưng Đức lại phải chống chân cho Đế quốc Áo-Hung bị coi là "bất tài". Quân đội Nga phải chuyển sang phòng ngự. Quân Đức cũng không tấn công thêm, mặt trận phía Đông đi vào ổn định. Chỉ trong 1 năm 1915, hơn 1 triệu quân Nga bị liên quân Đức - Áo bắt giữ, nhưng hơn 1 triệu lính Áo-Hung và Đức cũng đã bị Nga bắt giữ làm tù binh.[38]

Như vậy Quân đội Đức đã phải bị động đánh nhau trên 2 mặt trận và kế hoạch đánh nhanh thắng nhanh của nước này đã thất bại. Các bên tham chiến đi vào chiến tranh chiến hào. Thực chất, đây không phải là lần đầu tiên người Đức phải chiến đấu trên 2 mặt trận: trong cuộc Chiến tranh Bảy năm (1756 - 1763), Vương quốc Phổ dưới sự lãnh đạo tài tình của vua Friedrich II Đại Đế (1712 - 1786) cũng đã lâm vào tình trạng "lưỡng nan thọ địch" (người Phổ đã chiến thắng cuộc chiến tranh này do nữ hoàng Nga qua đời đột ngột khiến liên quân Nga-Áo-Pháp bị mâu thuẫn nội bộ).[39][40]

Diễn biến ở các chiến trường khác trong năm 1914

Đế quốc Nhật Bản lợi dụng việc các cường quốc đang tham gia cuộc chiến tranh ở Châu Âu đã quyết định thực hiện kế hoạch bành trướng ở Viễn Đông. Ngày 15 tháng 8 năm 1914, Nhật Bản gửi tối hậu thư cho Đức đòi nước này chuyển cho Nhật Bản vùng Giao Châu (Trung Quốc) và hạn cho Đức phải trả lời trong 8 ngày. Đức không trả lời tối hậu thư của Nhật Bản nên ngày 23 tháng 8 năm 1914, Nhật Bản tuyên chiến với Đức và nhanh chóng chiếm Giao Châu và tuyến đường sắt Thanh Đảo-Tế Nam (Trung Quốc) và 1 loạt hòn đảo là thuộc địa của Đế chế Đức tại Thái Bình Dương. Ngày 11 tháng 11 năm 1914, Thanh Đảo, thuộc địa của Đức ở Trung Quốc, đã đầu hàng Nhật Bản sau 43 ngày bị bao vây. Sau những hoạt động quân sự này, Nhật Bản không có hoạt động nào khác tham gia Chiến tranh thế giới lần thứ nhất.

Ngày 21 tháng 9 năm 1914, quân Úc chiếm New Guinea là thuộc địa của Đế chế Đức ở Thái Bình Dương. Ngày 5 tháng 11 năm 1914, quân Đức chiến thắng quân Anh ở Đông Phi thuộc Đức (nay là Tanzania). Năm ấy,Sultan Ottoman là Mehmed V phản đối liên minh Đức - Ottoman. Nhưng rồi, theo lời khuyên của Bộ trưởng Chiến tranh Ismail Enver, Mehmed V với tư cách là Sultan kiêm Khalip phát động Thánh chiến (Jihad) chống phe Entente.[41]

1915 – 1916: Đức chủ động tấn công

Sau thất bại của kế hoạch năm 1914 nhằm loại Pháp ra khỏi vòng chiến, nước Đức đã rơi vào thế bị động: tiềm năng kinh tế quân sự không bằng liên minh Anh – Pháp – Nga mà lại thực tế phải một mình đối đầu trên 2 mặt trận. Tình trạng này càng kéo dài thì càng bất lợi cho Đức. Để thoát thế kẹt trên 2 mặt trận, năm 1915 Đức tấn công quy mô lớn ở phía Đông để loại Nga ra khỏi chiến tranh và năm 1916 tổng tấn công để loại Pháp nhưng đều không thành. Trong 2 năm này đánh nhau rất to, thương vong của 2 bên là cực lớn, nhất là năm 1916 tại mặt trận phía Tây.

Mặt trận phía Đông 1915 – 1916

Năm 1915, nước Đức quyết định tập trung lực lượng tấn công để loại Nga ra khỏi vòng chiến, xoá bỏ mặt trận phía Đông. Quân Đức trên mặt trận phía Tây chủ động chuyển sang phòng ngự trước liên quân Anh, Pháp và từ tháng 4 đến tháng 8 năm 1915 để dồn binh lực sang mặt trận phía Đông, đánh đòn tiêu diệt đối với quân đội Nga.

Sau hơn nửa năm chiến tranh, điểm yếu của Nga lộ rõ: Quân Nga không chuẩn bị đầy đủ cho một cuộc chiến tiêu hao lâu dài. Nền công nghiệp Nga khi đó có quy mô nhỏ hơn so với Anh, Pháp và Đức, do vậy sản xuất vũ khí đạn dược không theo kịp nhu cầu của chiến tranh. Quân Nga lâm vào cảnh thiếu súng đạn (Tháng 12 năm 1914, quân đội Nga có 6.553.000 quân nhưng chỉ có 4.652.000 khẩu súng trường, đến cuối cuộc chiến thì quân Nga phải sử dụng tạp nham 10 loại súng trường nhập khẩu khác nhau, mỗi thứ bắn một loại đạn, trong khi đạn pháo thì liên tục thiếu hụt). Năm 1914. cả quân đội Nga chỉ có không hơn 679 ô tô vận tải và hai xe ô-tô cứu thương. Hệ thống liên lạc thì lạc hậu: Quân đoàn 2 của Samsonov có 130.000 quân mà chỉ có 25 điện thoại, một vài máy mã hóa thường trục trặc giữa chừng, và kết quả là chỉ huy Nga thường phải cưỡi ngựa đi thị sát tình hình giống như hồi đầu thế kỷ 19. Mặt khác, tình trạng lạc hậu của nước Nga thời đó ảnh hưởng xấu đến chất lượng quân đội: 60% các hạ sỹ quan xuất thân từ nông dân, rất ít người có trên 4 năm học vấn và gần như chưa ai trải qua đào tạo quân sự bài bản, phần lớn lính Nga thì bị mù chữ, nhiều người thậm chí không biết lắp đạn súng trường, do vậy khó có thể đào tạo họ sử dụng hiệu quả các loại vũ khí phức tạp trong chiến tranh hiện đại. Đội ngũ sĩ quan cao cấp Nga thì phần lớn được bổ nhiệm theo kiểu cách quý tộc giống như thế kỷ XIX, nghĩa là dựa vào xuất thân quý tộc và lòng trung thành với Sa hoàng hơn là thành tích chiến trường (ví dụ như Đại Công tước Nikolai được bổ nhiệm làm tổng tư lệnh quân đội Nga bởi vì là chú ruột Nga hoàng, dù thực tế ông ta chưa bao giờ chỉ huy 1 tiểu đoàn và cũng chưa từng tham gia một cuộc chiến nào). Nhiều sĩ quan quý tộc này chẳng những bất tài mà còn đố kỵ, không chịu hợp tác với những chỉ huy có năng lực cao hơn họ.

Vì các nguyên nhân trên, cuộc tấn công của Đức diễn ra thuận lợi và thành công lớn: trong Chiến dịch Gorlice-Tarnów phía nam Ba Lan, liên quân Đức - Áo-Hung tấn công như vũ bão, quân Nga thua lớn, mất khoảng 350.000 binh sĩ và phải rút lui trên toàn chiến tuyến[42] Họ thực hiện cuộc đại rút lui: bỏ Galicia, bỏ Ba Lan và sau đó phải bỏ cả một phần vùng Baltic. Thượng tướng August von Mackensen của Đức, với sự giúp đỡ tài tình của Đại tá Hans von Seeckt, đã làm nên chiến thắng lớn, khiến ông được thăng hàm Thống chế.[43] Chiến dịch Gorlice–Tarnów là một trong những chiến thắng lớn nhất của lực lượng Quân đội Đức trong suốt cuộc Đại chiến thứ nhất này.[44] Tuy thắng lợi to lớn, chiếm được một vùng rộng lớn đất đai của Đế quốc Nga nhưng Đức cũng bị tổn thất nhiều (mất 87.000 quân[45], chưa kể quân Áo-Hung) và vẫn không thể đạt mục tiêu cuối cùng là buộc Nga ra khỏi chiến tranh. Nga hoàng Nikolai II vẫn quyết tâm theo đuổi chiến đấu đến thắng lợi cuối cùng. Và đến cuối năm 1915 thì binh lực của nước Đức ở phía Đông cũng đã cạn, không thể tấn công thêm nữa. Mặt trận phía Đông đến cuối năm 1915 lại đi vào ổn định của chiến tranh chiến hào.

Sĩ quan Đức đang chuẩn bị nạp đạn pháo 250 mm Minenwerfer

Tuy thất bại trong mục tiêu loại Nga ra khỏi chiến tranh, quân Đức vẫn chiếm được nhiều vùng lãnh thổ với 23 triệu dân, trong đó có các vùng kinh tế quan trọng của Nga, khiến sản lượng kinh tế của Nga sụt giảm nghiêm trọng. Đây là một nhân tố sẽ góp phần tạo ra cách mạng lật đổ Nga hoàng sau này.

Từ tháng 6 đến cuối tháng 8 năm 1916, quân đội Nga (phương diện quân Tây Nam, tư lệnh Aleksei Alekseevich Brusilov lại một lần nữa lợi dụng quân Đức đang mải bận đánh trận Verdun bên Pháp tiến hành tấn công thắng lợi lớn tại Galicia, đánh tan tác liên quân Đức và Áo - Hung, bắt được hàng trăm ngàn binh sĩ đối phương[46]. Trong vòng 48 giờ, quân Nga đã xuyên thủng hàng phòng ngự của Áo - Hung dọc theo chiến tuyến dài 80km, bắt sống hơn 40.000 tù binh. Sau 2 tháng, hơn phân nửa lực lượng Áo- Hung Mặt trận phía Đông bị đánh tan tác, và tướng Conrad, Thạm mưu Trưởng Áo, bắt đầu nghĩ đến việc nghị hòa. Tổn thất nặng nề trong chiến dịch này đã thực sự làm quân đội Áo - Hung mất khả năng tiến hành các chiến dịch lớn chống lại khối Hiệp ước. Chiến dịch Brusilov được xem là chiến thắng vẻ vang nhất của quân Nga và phe Hiệp ước trong cuộc chiến. Hơn 1,3 triệu quân Đức, Áo - Hung đã bị tiêu diệt trong chiến dịch này (trong đó hơn 500.000 bị bắt), quân Nga chiếm lại một phần Ukraina và Belarus, khiến Brusilov trở thành người anh hùng của phe Entente trên Mặt trận phía Đông.[46] Tham mưu trưởng Đức, tướng Ludendorff đã gọi đây là ‘cuộc khủng hoảng phía Đông’.

Tuy thắng lớn nhưng quân Nga lại không thể thừa thắng xông lên tiêu diệt hoàn toàn quân đội Áo - Hung. Điều này bởi nhiều nguyên nhân: quân Nga đã cạn nguồn lương thực và đạn dược, lại phải điều bớt quân sang giúp đồng minh Rumani, ngoài ra còn có thái độ ganh ghét của các tướng Nga khác với thành công của Brusilov khiến đội quân của ông không nhận được sự hỗ trợ cần thiết. Đầu tháng 7, Tổng chỉ huy Nga chuyển Đội Vệ binh Hoàng gia ưu tú đến hỗ trợ Brusilov. Nhưng chỉ huy của Đội Vệ binh là Tướng Bezobrazov, một quý tộc kiêu ngạo, ông ta không tuân lệnh Brusilov mà cứ ra lệnh cho Đội Vệ binh tấn công qua một đầm lầy lộ thiên, để rồi bị thiệt hại nặng bởi máy bay Đức không kích. Chỉ trong một mệnh lệnh ngu ngốc, Đội Vệ binh tinh nhuệ nhất của nước Nga đã bị tiêu diệt. Trong khi đó, nếu 2 tướng Nga là Evert và Kuropatkin giữ lời hứa tiến quân đồng bộ với Brusilov, mở cuộc tấn công ở phía Tây và Tây-Bắc, thì tiến trình chiến tranh đã đổi chiều hoàn toàn và quân Nga có thể đi đến thắng lợi cuối cùng. Hindenburg sau đó thú nhận rằng nếu Nga mở cuộc tấn công thứ hai thì ‘Chúng tôi ắt hẳn đã đối diện với một sự sụp đổ hoàn toàn’. Một lần nữa, quân đội Nga lại lãng phí thời cơ quý giá vì những điểm yếu gây ra bởi những chỉ huy quý tộc. Tướng Brusilov sau này rằng có nhận xét cay đắng là ‘Nước Nga không thể thắng cuộc chiến với thể chế chính quyền hiện thời.’

Để cứu vãn tình hình mặt trận phía đông, nước Đức lại phải kéo quân từ mặt trận phía Tây về can thiệp và chặn đứng quân Nga. Quân Nga lại phải rút lui nhưng sau đó Đức phải chuyển quân sang phía Tây, hai bên lại đi vào cầm cự trong chiến hào cho đến khi Nga ra khỏi chiến tranh cuối năm 1917 vì sụp đổ trong phong trào cách mạng.

Mặt trận phía Tây 1915 - 1916

Phút giải lao của binh sĩ Anh trong chiến hào - Chiến trường Sông Somme 1916

Trong các năm 1915, 1916 mặt trận phía Tây đánh nhau cực kỳ quyết liệt nhưng không có nhiều đột biến: các chiến dịch tại Ypres (bắc Bỉ), Champagne và Artois (bắc Pháp) quân hai bên nhiều lần cố gắng chọc thủng phòng tuyến của nhau nhưng đều thất bại. Tại đây đầu tiên là quân Đức đã sử dụng vũ khí hoá học sau đó quân Entente đáp trả gây chết ngạt rất nhiều cho quân sĩ hai bên. Năm 1916, diễn ra trận Verdun nổi tiếng nhất trong thế chiến này, diễn ra trên đất Pháp (từ 21 tháng 2 đến 18 tháng 12 năm 1916) đây là nỗ lực của Đức tấn công đánh bại quân Pháp chiếm Paris loại Pháp ra khỏi chiến tranh: quân Đức tấn công rất mãnh liệt thành cổ Verdun để hướng về Paris và quân Pháp cố thủ đến cùng, hai bên tranh chấp chiến tuyến vô cùng ác liệt, chết vô số nhưng chiến tuyến chỉ dịch chuyển lên xuống được dưới 10km. Sau này Verdun vì số lượng thương vong quá lớn được gọi là "cối xay thịt". Quân Pháp kiệt quệ và cả hai phe đều không thể thắng được trận đại chiến Verdun này.[17]

Để phản công giải nguy cho Verdun, tháng 9 năm 1916, quân Anh đã tấn công tại trận sông Somme nhưng cũng không có kết quả rõ rệt. Trận này lần đầu tiên trong lịch sử quân sự thế giới quân Anh đã sử dụng xe tăng tấn công và đã đạt hiệu quả chiến thuật rất cao. Nhưng nỗ lực của liên quân Anh - Pháp coi như thất bại, thương vong của 2 bên trong chiến dịch này còn cao hơn cả trận Verdun[17]

Tại các mặt trận phía Nam 1915 – 1916

Ngày 23 tháng 5 năm 1915, Ý gia nhập khối Đồng minh ba bên (Anh- Pháp- Nga) để chống Áo. 14 tháng 10 năm 1915 Bulgaria tham gia vào phe liên minh Đức - Áo để chống Serbia. Mặt trận phía Nam tuy quy mô nhỏ nhưng sôi động hẳn lên.

  • Chiến trường Ý – Áo: tháng 5 năm 1915 quân Ý mở chiến dịch Isonzo chống quân Áo nhưng thất bại và bị Áo phản công chiếm Gorizia sau lợi thế nhỏ bé này mặt trận Ý – Áo đi vào ổn định cho đến tận cuối năm 1917.
  • Chiến trường Balkans: Chiến thắng vẻ vang của quân Đức trong Chiến dịch Gorlice–Tarnów trên Mặt trận phía Đông tạo điều kiện cho Bulgaria nhảy vào tham chiến.[44] Tại Balkan tháng 10 năm 1915 liên quân Đức – Áo – Bulgaria đánh tan quân Serbia tại Novo Brdo và quân Serbia phải rút lui sâu vào Albania và Hy Lạp. Để cứu nguy cho Serbia và gây áp lực lên Hy Lạp tham gia chống Liên minh Trung tâm, cuối năm 1915 liên quân Anh, Pháp tiến hành chiến dịch đổ bộ lên Salonica của Hy lạp nhưng nước này không tham gia chống Đức, Áo, Bulgaria. Chiến sự tại mặt trận Balkans tại Salonica ổn định, yên tĩnh lạ thường và các bên dường như không muốn đánh nhau cho đến tận cuối chiến tranh. Người ta gọi mặt trận Salonica là "trại tù binh lớn".
  • Chiến trường Trung Cận Đông: từ tháng 2 năm 1915 đến tận tháng 1 năm 1916 liên quân Anh, Pháp mở chiến dịch hải quân đổ bộ rất lớn trong lịch sử chiến tranh thế giới – chiến dịch Dardanelles đổ bộ gần 60 vạn quân để chiếm hai eo biển Dardanelles, Bosporus và thủ đô Istanbul để buộc Đế quốc Ottoman ra khỏi chiến tranh. Người anh hùng dân tộc Mustafa Kemal Atatürk đã xuất binh đập tan tác quân Entente, làm thất bại chiến dịch của địch.[47] Nhờ đó, Đế quốc Ottoman vẫn đứng vững và giáng trả hiệu quả, Entente ba bên phải di tản quân về Hy Lạp.
  • Chiến trường Kavkaz: Tại vùng Kavkaz, quân Nga có lực lượng nhỏ hơn nhưng đã đại thắng quân Ottoman tại trận Sarikamis (từ 29 tháng 12 năm 1914 đến 4 tháng 1 năm 1915) sau đó trong năm 1915, 1916 và cho đến tận cuối năm 1917 khi Nga sụp đổ vì cách mạng, quân Nga tại Kavkaz liên tiếp đánh lui quân Ottoman, tiến lên chiếm xứ nay là Armenia. Vì người Armenia theo Chính thống giáo có cảm tình với Nga nên chính quyền Đế quốc Ottoman đã thi hành chính sách diệt chủng người Armenia làm gần 1 triệu người Armenia chết, chấn động trong dư luận châu Âu và thế giới về Thế chiến I.

1917: Năm bản lề

Năm này là năm bản lề của chiến tranh: Tại mặt trận phía tây, liên quân chuyển sang tấn công. Chiến tranh tàu ngầm không hạn chế trên biển, Hoa Kỳ tham chiến chống Đức. Cách mạng tại Nga làm nước này rời bỏ chiến tranh.

Quân Anh-Pháp-Nga chuyển sang tấn công

Trong năm 1917 lợi thế đã nghiêng sang phía Anh-Pháp-Nga ba bên, vòng vây trên biển siết chặt kinh tế Đức của Hải quân Hoàng gia Anh đã cho thấy các kết quả. Liên quân Pháp-Anh liên tục mở các cuộc tấn công lớn trên tất cả các mặt trận.

Một quân đoàn súng máy của đế quốc Ottoman tại tuyến phòng thủ Tel esh Sheria và Gaza vào năm 1917

  • Chiến trường Trung Cận Đông: quân Anh liên tiếp chiến thắng quân Ottoman và chiếm Baghdad (Iraq) tháng 3 năm 1917 và tổ chức thành công chiến dịch Sinai và chiến dịch Palestine chiếm Jerusalem vào tháng 12 năm 1917.
  • Chiến trường Ý – Áo: tại chiến trường này cuối năm 1917 khi cách mạng nổ ra ở Nga, không còn mặt trận phía Đông, quân Đức – Áo được tiếp viện một lực lượng hùng hậu trong đó có các đơn vị xung kích của Đức làm nòng cốt, đã tổ chức chiến dịch Caporetto (26 tháng 10 năm 1917) và đã thắng lợi vang dội tiêu diệt 6 vạn và bắt gần 30 vạn quân Ý. Quân Anh, Pháp phải cứu viện lập phòng tuyến cố thủ tại sông Piave. Và thế trận dừng lại ở đây cho đến hết chiến tranh. Tuy thắng lợi của Đức, Áo tại Caporetto rất to lớn nhưng vai trò thứ yếu của mặt trận Ý – Áo không làm đảo lộn thế chiến lược của chiến tranh và thực lực của phe Trung tâm cũng không cho phép phát triển thành quả.

Lính Úc trên mặt trận phía tây - Ypres 1917, họ đeo mặt nạ chống hơi ngạt

  • Mặt trận phía Tây: Liên quân Anh, Pháp đã nắm quyền chủ động chiến trường, trong năm 1917 tại mặt trận này chỉ có họ tấn công nhưng không thể chọc thủng nổi tuyến phòng thủ rắn chắc của quân Đức. Các cuộc tấn công tại Verdun, Ypres, Cambrai với sử dụng ồ ạt xe tăng đều thất bại. Đặc biệt từ 9 tháng 4 đến 5 tháng 5 năm này quân đội Pháp mở chiến dịch Nivelle (theo tên của Tổng tư lệnh quân đội Pháp Robert Georges Nivelle – người soạn thảo kế hoạch) với số lượng áp đảo gấp 2 lần quân Đức, kết quả: với số thương vong 50 vạn và đã thất bại và ngày nay trận này được gọi là "lò mổ của Nivelle". Đến cuối năm 1917 phòng tuyến Đức tại mặt trận phía Tây vẫn chưa thể phá vỡ nổi.

Chiến tranh tàu ngầm không hạn chế

Sau này nhiều nhà nghiên cứu Anh đã công nhận Anh thực tế đã trên nguy cơ thua trận nếu chiến tranh tàu ngầm của Đức hiệu quả hơn nữa. Ban đầu Đức trông cậy vào hạm đội tàu nổi của mình nhưng hạm đội Đức không thể đua tranh được với hạm đội hùng hậu của Hải quân Hoàng gia Anh nên nhiệm vụ bóp nghẹt kinh tế Anh được giao cho hạm đội tàu ngầm rất nổi tiếng của Đức. Đức chạy đua với thời gian xây dựng lực lượng tàu ngầm và sử dụng chúng hiệu quả để đánh phá tuyến vận tải biển quan trọng sống còn đối với Anh.

Tàu hàng Andex của Anh trúng ngư lôi của tàu ngầm Đức. Để tăng hiệu quả áp lực lên Anh tháng 2 năm 1917 Tổng tham mưu trưởng Đức Erich Ludendorff thuyết phục được Thủ tướng Đức (Chancellor) tuyên bố chiến tranh tàu ngầm không hạn chế chống mọi tàu của mọi quốc tịch chuyên chở tiếp tế cho Anh. Lượng trọng tải tàu bị đánh chìm tăng lên nhanh chóng đạt mức trung bình 500.000 tấn/tháng và đạt đỉnh trong tháng 4 năm 1917 là 860.000 tấn. Nước Anh trước nguy cơ bại trận: tình hình rất nghiêm trọng, đã có nạn đói trong nước. Từ tháng 8 năm 1917 Anh áp dụng chiến thuật vận tải mới là hạm đội áp tải để vô hiệu hoá đòn đánh của tàu ngầm và chiến thuật này là cực kỳ hiệu quả và nước Anh đã thoát hiểm hoạ chết đói. Nhưng để đối phó lại, tàu ngầm Đức áp dụng chiến thuật "nổi lên đánh đêm": hạm đội Anh chỉ hiệu quả chống tàu ngầm khi chúng bị phát hiện dưới mặt nước hoặc bị nổi lên ban ngày. Khi vào ban đêm tàu ngầm Đức nổi lên bơi lẫn vào đoàn tàu vận tải thì Hải quân Anh không biết cách làm thế nào. Đây là chiến thuật rất hiệu quả của Đức và nếu chiến tranh kéo dài chưa biết kết quả sẽ thế nào: Các tàu ngầm Đức luôn theo sát các đoàn convoy của Anh nhưng thay vì tấn công, chúng chờ đến đêm nổi lên bơi lẫn vào đoàn tàu vận tải, áp mạn ở cự ly gần và dùng pháo lần lượt tiêu diệt từng chiếc một. Một thảm hoạ cho hình thức convoy của Anh.

Hoa Kỳ tham chiến

Hoa Kỳ từ đầu thế kỷ XX theo đuổi chính sách không can thiệp và giữ trung lập trong chiến tranh. Nhưng do phần lớn người Mỹ là con cháu của những người Anh di cư sang nên tâm lý nhân dân và chính giới Hoa Kỳ luôn giành tình cảm cho người Anh nên dù vẫn giữ quan hệ với Đức, Hoa Kỳ luôn dành cho Anh những thuận lợi để duy trì chiến tranh.

Quân Mỹ tham chiến ở miền Bắc nước Pháp trong năm 1918

Ban đầu, Hoa Kỳ không muốn tham gia chiến tranh, họ chỉ muốn đứng ngoài thu lợi từ các hợp đồng xuất khẩu hàng hóa cho các nước tham chiến. Các khoản chi phí quân sự cực lớn của các nước châu Âu đã đem lại lợi nhuận cực kỳ lớn cho các công ty Mỹ (bằng việc bán lương thực, đồ dùng và cho vay nặng lãi đối với các nước tham chiến). Đến năm 1917, xuất khẩu của Mỹ đã tăng 2,5 lần so với mức trước chiến tranh (từ 825 triệu USD lên 2,25 tỷ USD), chủ yếu là nhờ xuất khẩu hàng hóa sang châu Âu. Giữa năm 1914 và 1917, sản xuất công nghiệp Mỹ tăng 32% và GNP tăng gần 20%, trái ngược hẳn với tình trạng suy thoái trước chiến tranh. Riêng hãng thép Bethlehem Steel đã xuất khẩu 500.000 tấn vỏ thép và 20,1 triệu viên đạn pháo cho Anh và Pháp trong giai đoạn 1914-1917.

Các khoản cho vay từ các tổ chức tài chính Mỹ đến các nước châu Âu cũng gia tăng mạnh trong thời chiến tranh. The House of Morgan cung cấp kinh phí cần thiết cho chiến phí của Anh và Pháp. Từ năm 1914 trở đi, các ngân hàng Morgan ở New York, được chỉ định là đại diện tài chính cho chính phủ Anh, và sau đó đóng một vai trò tương tự đối với Pháp.

Trong khi thế giới tập trung chú ý vào chiến trường châu Âu, Hoa Kỳ ngày càng lo ngại rằng Đức có thể giành chiến thắng. Vào đầu thế kỷ XX, với tham vọng đánh chiếm thuộc địa ngày càng tăng, sự hiện diện của Đức ở Haiti gia tăng. Năm 1915, tổng thống Woodrow Wilson từng phải gửi Thủy quân lục chiến Mỹ tới Haiti, nhằm bảo vệ các tài sản của Mỹ trong khu vực và ngăn chặn một cuộc xâm lược của Đức và lãnh thổ này. Đầu năm 1917, Đế quốc Nga sụp đổ còn Đế quốc Anh thì đang tổn thất nặng do tàu ngầm Đức, chiến sự đảo chiều có lợi cho phe Đức. Nếu Đức chiến thắng trong thế chiến, nước này sẽ là bá chủ châu Âu, và mục tiêu tiếp theo của Đế quốc Đức chắc chắn sẽ là các thuộc địa ở Nam Mỹ, vùng mà Hoa Kỳ vẫn luôn coi là khu vực ảnh hưởng quan trọng nhất của mình. Ngoài ra, 3 tỷ USD (tương đương 50 tỷ USD thời giá 2015) mà Mỹ đã cho Anh, Pháp vay để làm chiến phí sẽ mất trắng. Do đó, Mỹ ngày càng muốn tham gia vào chiến tranh để hỗ trợ cho Anh và Pháp.

Với việc Đức tuyên bố chiến tranh tàu ngầm không hạn chế đánh cả vào tàu Mỹ, lại cộng thêm sự kiện bức điện Zimmermann đã làm dư luận Hoa Kỳ hết kiên nhẫn, họ đòi chính phủ tham chiến chống Đức. Ngày 6 tháng 4 năm 1917, Hoa Kỳ cắt mọi quan hệ và tuyên bố chiến tranh với Đức. Vào cuối năm 1918 khi Đức đầu hàng, lực lượng viễn chinh Hoa Kỳ tại châu Âu chưa thật lớn và Quân đội Hoa Kỳ không đóng vai trò chủ đạo trong việc đánh thắng quân Đức trên chiến trường, nhưng rõ ràng với tiềm lực kinh tế rất lớn của mình giúp cho Entente và các mối ràng buộc chính trị, kinh tế nhất là các khoản cho vay với Đức bị dứt bỏ thì sự tham chiến của Hoa Kỳ là một yếu tố cực mạnh có lợi cho Đồng Minh.

Sau chiến tranh, Hoa Kỳ là nước thu lợi lớn trong khi các nước châu Âu thì tổn hại nghiêm trọng. Hoa Kỳ tổn thất gần 50.000 lính tử trận, con số này rất nhỏ so với tổn thất của các nước Anh, Pháp, Đức, Nga. Các nước châu Âu đều bị tàn phá nặng, trong khi lãnh thổ Hoa Kỳ không bị tổn hại gì, lại còn thu được lợi nhuận khổng lồ từ các hợp đồng xuất khẩu hàng hóa cũng như các khoản bồi thường chiến phí từ các nước bại trận. Ngoài ra, Hoa Kỳ còn chiếm thêm được một số thuộc địa từ tay Đế quốc Đức ở khu vực Thái Bình Dương.

Những nguyên nhân nói trên đã giúp kinh tế Hoa Kỳ vượt qua các nước châu Âu kể từ sau thế chiến 1. Trước chiến tranh, Đế quốc Anh sở hữu hơn một nửa trọng tải tàu biển trên thế giới, trong khi Hoa Kỳ chỉ chiếm 5%, nhưng vào cuối Thế chiến, vị thế đó đã được thay đổi. Nước Anh chỉ còn chiếm không quá 35% trong khi Hoa Kỳ sở hữu 30% trọng tải vận chuyển đường biển trên thế giới. Tương tự như vậy, Hoa Kỳ đã đạt được sự thống trị với thị trường than, điều mà Anh đã đánh mất. Vào cuối cuộc chiến tranh, kinh tế các nước châu Âu tham chiến đều bị "hút máu" đến cạn kiệt và lâm vào nợ nần với chủ nợ là Hoa Kỳ. Gần một nửa số vàng dự trữ của thế giới đã chuyển sang nằm trong tay của Hoa Kỳ, các khoản nợ tích lũy của châu Âu với Mỹ đã lên tới trên 18 tỷ USD (tương đương hơn 300 tỷ USD thời giá 2015).

Cách mạng tại Nga, Nga ra khỏi chiến tranh

Tướng Nga Brusilov năm 1917

Nền kinh tế Nga không chịu nổi sức nặng chiến tranh, dân chúng khốn cùng, thất nghiệp, chết đói... Lại cùng những thất bại nặng nề trước quân Đức trên mặt trận, tất cả những cái đó gây bất mãn cao độ trong nhân dân và quân đội. Quân lính đã quá khổ vì chiến tranh lại căm thù tầng lớp sĩ quan quý tộc, không còn lòng ái quốc ban đầu khi mới chiến đấu. Mâu thuẫn nội bộ của quân đội Nga cũng là quá lớn: thậm chí chiến dịch tấn công của tướng Brusilov tháng 6 năm 1916 chống quân Áo – Hung tại Galicia cũng bị các sĩ quan cao cấp khác ghen ghét, không chịu hợp tác.

Nền kinh tế Đế quốc Nga vốn yếu hơn Đức, Anh, Pháp nên không chịu được cường độ cao của cuộc chiến tranh. Lệnh tổng động viên 10 triệu người tham gia nhập ngũ đã làm cho sản xuất nông nghiệp thiếu nhân lực nghiêm trọng nên ngày càng suy thoái. Từ năm 1916 đến 1917, sản lượng lương thực giảm 20%. Nạn mất mùa, đói kém xảy ra khắp nơi. Sản xuất công nghiệp cũng đình đốn trong chiến tranh nên nạn thất nghiệp tăng nhanh. Nền tài chính nước Nga lâm vào tình trạng khủng hoảng. Từ tháng 8 năm 1914 đến tháng 3 năm 1917, triều đình Nga hoàng đã chi vào cuộc chiến 29,6 tỷ Rupee, cao gấp 3 lần tổng thu quốc khố. Để có tiền chi dùng cho cuộc chiến, triều đình liên tục trưng thu những loại thuế mới và tổ chức bán quốc trái trong nhân dân. Tổng số quốc trái tính từ đầu 1914 là 8,8 tỷ Rupee đã tăng lên 36,6 tỷ Rupee vào năm 1917.

Mặt hàng quan trọng nhất là ngũ cốc, các phú nông và thương buôn đã đầu cơ, tích trữ lương thực: giá lương thực tăng cao hơn so với bất kỳ loại hàng hóa khác trong chiến tranh. Năm 1916, giá lương thực tăng cao hơn so với mức lương 3 lần, mặc dù vụ mùa bội thu trong cả hai năm 1915 và 1916. Giá ngũ cốc từ 2,5 rúp được dự đoán sẽ tăng lên đến 25 rúp. Với giá lương thực đắt đỏ, trong suốt năm 1916, người lao động ở đô thị Nga chỉ ăn trung bình khoảng từ 200 đến 300 gram lương thực cho mỗi ngày. Năm 1917, dân cư ở các đô thị của Nga được phép mua chỉ 450 gram bánh mỳ cho mỗi người lớn mỗi ngày. Tới mùa thu năm 1917, nước Nga đã lâm vào một cuộc khủng hoảng kinh tế và chính trị hết sức trầm trọng. Sản xuất công nghiệp chỉ bằng 36,4% so với năm trước. Giao thông vận tải hầu như bị tê liệt. Nạn đói đã xảy ra ở nhiều vùng trong nước, nhất là ở các thành phố. Các mâu thuẫn xã hội càng thêm gay gắt.

Lenin diễn thuyết kêu gọi nhân dân đứng lên làm cách mạng, tháng 5/1917

Đến năm 1917, người dân Nga đã quá căm giận nhà cầm quyền và không thể chịu nổi gánh nặng chiến tranh, nhất là khi quân Đức chỉ còn cách Thủ đô hơn 100km. Mặt khác những người Cộng sản Nga (Bolshevik) đã kêu gọi người dân chống chiến tranh đế quốc, "Biến chiến tranh đế quốc thành nội chiến cách mạng". Nhân dân và binh sĩ đã không thể chịu nổi và muốn theo Đảng Bolshevik của Lenin tiến hành cách mạng. Đến tháng 3 năm 1917, Cách mạng tháng 2 đã nổ ra, Sa hoàng thoái vị. Đây là bước chuyển để những người Bolshevik thắng lợi hoàn toàn trong Cách mạng tháng Mười Nga. Tuy giữa hai cuộc cách mạng, nước Nga vẫn còn trong khối Đồng minh ba bên nhưng thực tế sau cách mạng tháng 2, quân đội Nga đã tan rã, không còn kỷ luật, quân sĩ tự bỏ ngũ, tự rút lui, có nơi họ còn truy lùng các sĩ quan mà trước đây họ căm thù để xử lý. Mặt trận phía Đông nhanh chóng biến mất, quân Đức nhân đà tan rã của quân Nga nhanh chóng theo chân kéo sâu vào lãnh thổ Nga để ra yêu sách.

Lãnh thổ Nga mất theo Hiệp ước Brest-Litovsk

Sau cách mạng tháng 10, Lenin đề nghị các nước tham chiến ngừng chiến tranh ngay lập tức, không đánh chiếm lãnh thổ của nhau, không bắt nhau phải bồi thường chiến phí. “Sắc lệnh về hòa bình” của Nhà nước Xô-viết lên án mọi chính sách đế quốc Chủ nghĩa, phản đối chiến tranh xâm lược, bảo vệ hòa bình và quyền bình đẳng, quyền tự quyết định vận mệnh của các quốc gia, dân tộc trên thế giới. Lênin nêu rõ: “Chiến tranh là một tội ác lớn nhất đối với nhân loại... Chúng ta đấu tranh chống sự dối trá của các chính phủ, trên lời nói thì tất cả đều nói về hòa bình, về công lý, nhưng trong việc làm lại tiến hành những cuộc chiến tranh xâm lược và cướp bóc...”. Lần đầu tiên chiến tranh xâm lược của Chủ nghĩa đế quốc bị lên án, bị coi là tội ác lớn nhất chống lại nhân loại.[48]

Với việc ký kết hoà ước Brest-litovsk riêng rẽ với Đức vào ngày 3 tháng 3 năm 1918, nước Nga Xô Viết ra khỏi chiến tranh với những nhân nhượng rất lớn: trao cho Đức vùng Ba Lan, Tây Belarus, Ukraina, các tỉnh Baltic, trả bồi thường 6 tỷ mark vàng cho Đức, ngoài ra nước Nga Xô viết không thể đủ lực lượng để ngăn cản phong trào đòi độc lập của Phần Lan nên đã dễ dàng trao trả độc lập cho nước này. Cuối cùng, Nga đã mất khoảng 842.000 km2 (chiếm 15,4% tổng diện tích trước chiến tranh), nơi sinh sống của 31,5 triệu người (23,3% dân số trước chiến tranh của Đế quốc Nga). Việc nhân nhượng Đức nằm trong dự tính của Lenin rằng nước Đức sẽ sớm thất bại trong thế chiến 1. Kế hoạch của Lenin thực chất là một biện pháp "câu giờ": ký hòa ước để nước Nga thoát khỏi được chiến tranh và tiết kiệm được xương máu của nhân dân. Đến khi Đế quốc Đức sụp đổ thì hòa ước cũng vô hiệu, nước Nga khi đó cũng chẳng còn phải bồi thường chiến phí nữa.

Nhận định này là chính xác khi chỉ 8 tháng sau, nước Đức bại trận và hoà ước Brest-litovsk trở nên vô hiệu. Sau đó, nước Nga Xô viết đã tiến quân thu hồi lại phía đông Ukraina và Belarus. Nhưng phần tây Ukraina, Tây Belarus đã bị kẻ thù mới là Ba Lan chiếm mất, vùng Berbassia thì bị Romania chiếm mất. Phải đến trước Thế chiến II, Liên Xô mới nhân lúc Đức đang tấn công mặt trận phía Tây, tranh thủ giành lại các vùng Tây Belarus, Tây Ukraina, Berbassia, Baltic và nhập các vùng này vào lãnh thổ Liên Bang Xô viết.

1918:Phe Trung tâm thua trận

Trong năm 1918, Đế chế Đức huy động những nỗ lực tấn công cuối cùng nhưng đều thất bại. Khi Đức đã kiệt quệ các nguồn lực, Đồng minh tấn công tổng lực và giành thắng lợi lớn. Nước Đức đã quá suy kiệt và cách mạng đã nổ ra, lật đổ hoàng đế Đức. Trong khi đó, quân Áo - Hung đại bại tại Ý, ngọn lửa phong trào dân tộc Chủ nghĩa đã bùng cháy ở nhiều miền đất trên khắp Đế quốc Áo - Hung. Vào tháng 10 năm 1918, Đế quốc Áo - Hung sụp đổ.[49] Phe Trung tâm đầu hàng.

Cuộc tấn công mùa xuân của Đức

Việc Nga rút khỏi chiến tranh khiến cho mặt trận phía Đông đã kết thúc hoàn toàn, điều này cho phép Đức có thể rảnh tay rút về một lực lượng quân đội lớn để chi viện cho mặt trận phía Tây. Với gần 1 triệu quân Đức đã được chuyển từ phía Đông để tăng viện cho mặt trận phía Tây, Bộ Tổng tham mưu Đức trù tính một trận tổng tấn công thắng lợi trước khi quân đội Hoa Kỳ có thể kịp triển khai.

Các chỉ huy của Đức Hindenburg và Ludendorff

Kế hoạch của Đức là đánh vào tuyến phân chia của quân Anh và Pháp tại đầu mối đường sắt Amiens (chiến dịch Michael) chiến dịch bắt đầu 21 tháng 3 năm 1918. Khác với mọi chiến dịch tấn công trước đây, lần này quân Đức áp dụng chiến thuật bộ binh xung kích và thành công lớn, tiến nhanh mạnh về phía trước 60km. Thủ đô Paris bị uy hiếp, quân Anh-Pháp đã kiệt quệ, thậm chí vua Wilhelm II công bố ngày 24 tháng 3 là ngày hội quốc gia, nhiều người Đức đã thấy thắng lợi đã đến gần. Tuy nhiên sau những trận đánh ác liệt và với việc 1 triệu quân Mỹ đã chính thức tham chiến, quân Đức đã bị chặn đứng với thương vong trong khoảng tháng ba và tháng tư là gần 30 vạn người.

Xe tăng Mk IV của Anh bị quân Đức tịch thu và sử dụng trong cuộc Tổng tấn công Mùa xuân 1918

Tiếp theo chiến dịch Michael quân Đức tuyệt vọng ném thêm quân liên tiếp vào các chiến dịch tiếp theo nhưng đó đã là những nỗ lực ngày càng bất lực (cho dù họ đạt được chiến thắng vang dội trong trận sông Aisne lần thứ ba[50]), và cuối cùng là cố gắng bao vây Reims vào ngày 15 tháng 7 năm 1918 đó là trận sông Marne lần thứ hai, tại đây liên quân Anh-Pháp phản công thắng lợi. Đến cuối tháng 7, tại nhiều nơi quân Đức phải ngừng tấn công hoặc bị đẩy lại trở về vị trí ban đầu. Nỗ lực tấn công cuối cùng của Đức đã tiêu tan.

Chiến dịch mùa xuân 1918 là một thành công về mặt tác chiến của Đức khi họ chiếm được thêm lãnh thổ, tiêu diệt được hơn 1 triệu quân Anh-Pháp-Mỹ. Tuy vậy, quân Đức cũng tổn thất gần 69 vạn quân, đây là tổn thất mà Đức không thể bù đắp được do nước Đức đã huy động gần hết nam giới của họ ra trận. Trong khi đó, do có dân số đông hơn, liên quân Anh-Pháp-Mỹ có thể tiếp tục huy động tân binh để bù đắp tổn thất. Trong sáu tháng, sức mạnh của quân đội Đức đã giảm từ 5,1 triệu quân xuống còn 4,2 triệu, đến tháng 6/1918 thì quân số Đức đã tụt xuống ít hơn quân số của Anh-Pháp-Mỹ. Binh lực của Đức đã kiệt quệ và họ không còn khả năng ngăn chặn đòn phản công sắp tới của liên quân Anh-Pháp-Mỹ.

Đồng minh tấn công tổng lực thắng lợi

Khi Quân Đức đã rã rời suy kiệt, không còn dự bị để phát triển tiến công, liên quân Entente liền huy động tổng phản công trên toàn mặt trận. Quân Đức đã cạn kiệt về quân số và đạn dược nên không còn khả năng chống trả mạnh mẽ như trước đây nữa. Cuộc tấn công của liên quân đã phát triển thắng lợi và được gọi là 100 ngày tấn công: bắt đầu từ 8 tháng 8 bằng trận Amiens, liên quân đồng loạt phối hợp tấn công: với tập đoàn quân của Pháp bên phải, quân Anh bên trái, các quân đoàn Canada và Úc làm mũi nhọn tấn công chính diện với hàng trăm xe tăng và 12 vạn quân đã đánh lui quân Đức hàng chục km. Chiến thắng lớn tại Amiens trở thành chiến tích lớn nhất của Quân đội Anh trong cuộc Đại chiến thứ nhất, và cũng là thắng lợi lớn nhất của phe Entente trên Mặt trận phía Tây kể từ sau trận sông Marne lần thứ nhất.[51]

Sau mấy tuần tiến công thắng lợi, ngày 21 tháng 8 quân Anh tổ chức trận Sông Somme lần thứ hai đánh lui tập đoàn quân số 2 của Đức về vị trí của phòng tuyến Hindenburg là phòng tuyến bắt đầu chiến tranh. Đến cuối tháng 9, sau các cố gắng bất thành, liên quân dừng lại ở tuyến Hindenburg và tại đây sau cách mạng tại Đức, quân Đức đã đầu hàng.

Cách mạng tại Đức

Đức đã hoàn toàn suy kiệt trong chiến tranh. Trong tháng 10 trong nước rối loạn chẳng còn ai còn tin vào ảo tưởng chiến thắng nữa chỉ trừ Tổng chỉ huy Erich Ludendorff và một số tướng lĩnh quân phiệt. Ludendorff cùng Đô đốc Reinhard Scheer trù tính dùng toàn lực hạm đội Đức tổ chức một trận hải chiến mang tính phiêu lưu xông thẳng vào hạm đội đối phương để tỏ rõ vinh quang của hạm đội Đức. Các tướng lĩnh quân phiệt Đức âm mưu không thông báo cho Thủ tướng vì biết rằng hành động này sẽ không được chấp nhận. Tuy nhiên tin tức về cuộc tấn công đã được các thuỷ binh tại hải cảng Kiel biết, họ nổi loạn vì không muốn làm một việc tự sát. Náo loạn và cách mạng bắt đầu từ đây, Hoàng đế Wilhelm II phải cách chức Ludendorff. Chính quyền được trao từ tay giới quân nhân sang cho các chính Đảng tại Quốc hội Đức (Reichstag). Ludendorff tuyên bố chính quyền dân sự sẽ làm đất nước thua trận và là "nhát dao đâm vào sau lưng quân đội". Đây là luận điểm của các lực lượng phục thù muốn bào chữa cho thất bại của Đức trong đó có Đảng Nazi (Đảng Công nhân Đức quốc gia Xã hội Chủ nghĩa hay Đảng Quốc xã) sau này của Adolf Hitler.

Công tước Max von Baden được chỉ định làm thủ tướng và ngay lập tức bắt đầu đàm phán hoà bình. Ngày 9 tháng 11 năm 1918 von Baden tuyên bố nhà vua phải thoái vị, đế quốc Đức sụp đổ, vua Wilhelm II được Hà Lan cho tị nạn chính trị và Cộng hoà Weimar ra đời.

Phe Trung tâm đầu hàng

Bắt đầu từ cuối tháng 9 năm 1918, phe Trung tâm nhanh chóng đầu hàng: đầu tiên là Bulgaria (29 tháng 9), Đế quốc Ottoman (30 tháng 10), 2 nước Áo, Hungary (4 tháng 11) đầu hàng riêng biệt do Đế quốc Áo - Hung của Vương triều Habsburg đã sụp đổ.

Vào ngày 8 tháng 11 năm 1918, phái đoàn Đức đến toa tàu hoả riêng của Thống chế Ferdinand Foch tại cánh rừng Compiegne (Pháp). Khi Foch hỏi họ đến để làm gì, họ nói với ông ta rằng họ muốn nghe những lời thỉnh cầu ngừng bắn của phe Entente. Foch trả lời rằng ông ta không hề có yêu cầu ngừng bắn gì cả. Nhưng rồi, Matthias Erzberger đã buộc Foch phải đọc các điều khoản của thỏa thuận ngừng bắn. Vào ngày 11 tháng 11 năm 1918, cũng chính tại toa tàu hỏa cá nhân của Foch, ngừng bắn được ký kết giữa hai bên.[52]

Ngày 28 tháng 6 năm 1919 các nước thắng trận đã ký hiệp định hoà bình với Đức là Hiệp định Versailles với các hạn chế ngặt nghèo cho sự phát triển sau chiến tranh của Đức (phải đến tháng 10 năm 2010 nước Đức mới hoàn thành xong khoản chiến phí nặng nề cho cuộc chiến này). Và các hiệp định hoà bình cũng được ký kết giữa phe thắng trận với từng quốc gia thua trận là Áo, Hungary và Bulgaria. Đến năm 1920, phe Entente ký kết Hòa ước Sèvres với Sultan Mehmed VI theo đó Đế quốc Ottoman phải chịu vô cùng thiệt thòi.[53] Đây là một đòn giáng nặng nề vào Đế quốc Ottoman.[54] Chiến tranh thế giới thứ nhất đã kết thúc.

Mục lục

  • 1 Hoàn cảnh lịch sử
  • 2 Diễn biến
    • 2.1 Chiến dịch Michael
    • 2.2 Chiến dịch Georgette
    • 2.3 Cuộc tấn công lần 3
    • 2.4 Cuộc tấn công lần 4
  • 3 Đọc thêm
  • 4 Chú thích
  • 5 Liên kết ngoài

Hoàn cảnh lịch sửSửa đổi

Năm 1917 Hoa Kỳ và Brasil từ bỏ chính sách trung lập để tham gia về phe Hiệp Ước. Họ không những đóng góp quân số mà còn cung cấp cho lực lượng Hiệp Ước một hậu cứ an toàn với những cơ xưởng tối tân. Trước những thuận lợi đó, quân Hiệp Ước bắt đầu tính tới chuyện phản công.

Không phải chỉ có khối Hiệp Ước tính chuyện phản công mà người Đức cũng có kế hoạch đó.

Mùa thu 1917, các chuyên gia chiến thuật của Thượng tướng Bộ binh (General der Infanterie), Phó tổng tham mưu trưởng thứ nhất Erich Ludendorff đã soạn thảo ra 1 học thuyết mới về tấn công-Tiến công chiều sâu và trong suốt mùa Đông sau đó, họ đã cật lực tái trang bị lại khoảng 40 sư đoàn mà họ gọi là Lực lượng Bão tố. Học thuyết mới của họ đòi hỏi mọi quân nhân Đức phải biết khai thác những điểm yếu của phòng tuyến kẻ thù để khoét sâu vào tuyến cuối. Sự nhanh chóng là bí quyết của chiến thắng.

Thống chế Paul von Hindenburg, Hoàng đế (Kaiser) Wilhelm II và Phó tổng tham mưu trưởng thứ nhất Erich Ludendorff

Tuy nhiên, ngoài các đơn vị xuất sắc và được huấn luyện cẩn thận này thì các sư đoàn còn lại đều đang thiếu thốn trang bị lẫn huấn luyện để có thể chiến đấu theo lối đánh mới. Do đó, Ludendorff buộc phải dứt điểm cuộc chiến với số ít các đơn vị thiện chiến này nếu không muốn quân Đức phải sụp đổ. Mặc dù một bức tranh tuyên truyền cho thấy vua Đức tích cực tham gia lập kế hoạch Tổng tấn công, Chiến dịch này thực thụ là "sản phẩm" của Ludendorff[8].

Nhờ Mặt trận phía Đông quân Nga đã sụp đổ và România đã bị buộc phải ký Hiệp ước Bucharest[3] nên Đức đã có thể điều 50 sư đoàn với nửa triệu binh sĩ sang phía Tây tăng cường cho các lực lượng tại đây,[1] nâng tổng số quân Đức lên 1,6 triệu người và 16.000 khẩu pháo Ngoài ra, quân Ý đã suy sụp, mang lại bất lợi cho khối Hiệp Ước.[3] Ngày 11 tháng 11/1917 tại cuộc họp của Bộ Tổng Tham mưu Đức ở Mons, Bỉ Thượng tướng Ludendorff đã trình bày kế hoạch Tổng tấn công quân Hiệp Ước để đem lại thắng lợi quyết định cho Đức và buộc đối phương phải ký hòa ước trên cơ sở có lợi cho Đức. Hội nghị đi tới quyết định tấn công 10 Đại đoàn đã sứt mẻ của quân Anh trên Mặt trận Flander với quân số là 7 Đại đoàn. Sau khi nhận định kỹ chiến trường, Ludendorff quyết định tấn công trên toàn mặt trận nhưng mũi khoét sâu nhằm vào người Anh ở Aras, mục tiêu là cắt đôi liên quân Anh-Pháp ở mặt trận sông Somme bằng một loạt đợt nghi binh và tiến công[13] rồi đẩy quân Anh ra khỏi lục địa. Chiến dịch mang tên Michael này diễn ra tại 3 vùng Picardre, Flandre và sông Aisne.

Bộ Tổng Tham mưu Đức đã chứng nhận cuộc Tổng tấn công này sau khi thử nghiệm bằng một loạt "trò chơi" chiến lược hết sức phức tạp.[14] Ludendorff hãy còn có một sai lầm lớn là không chuyển thêm quân từ Mặt trận phía Đông qua.[3] Trước cuộc tiến công của Đức, tình báo Mỹ đã lưu ý chính phủ Pháp về khả năng Đức sẽ tấn công quy mô lớn trong tháng 3/1918 nhưng các quan chức Pháp đã phớt lờ các cảnh báo này.

Diễn biếnSửa đổi

Chiến dịch MichaelSửa đổi

Thống chế Haig, Tư lệnh quân Anh

Cuộc tổng tấn công cuối cùng của Đức diễn ra từ ngày 21 tháng 3/1918. Trước đó quân Đức đã tung ra 225 cuộc đột kích nhỏ vào phòng tuyến Anh.

Đúng 4h 43 phút rạng sáng ngày 21 tháng 3, 6.473 đại pháo nã đạn ồ ạt xuống 1 tuyến dài 40 dặm, không bỏ sót 1 vị trí nào.

9h 35 phút sáng, 3.500 súng cối tiếp tục nã đạn và 5 phút sau, 32 sư đoàn Đức tiến lên trong khi 39 sư đoàn khác sẵn sàng vào vị trí chiến đấu. Các tổ Biệt kích Đức cũng tăng cường đánh phá khắp nơi, đây làn lần đầu tiên súng tiểu liên xuất hiện trong các đơn vị Đức. Khói súng, bụi mù che mất quân Đức và khi quân Anh phát giác ra thì đã quá trễ, quân Đức dùng lưỡi lê, lựu đạn đánh giáp lá cà vô cùng ác liệt với lực lượng phòng thủ. Quân Anh cố gắng chống cự, nhưng đến trưa thì phòng tuyến thứ nhất của quân Anh bị quân Đức tràn ngập, phía Pháp tình hình cũng tương tự. Ngay ngày đầu số tù binh Anh bị bắt đã lên tới 21.000 người [2] Thắng lợi ban đầu của quân Đức được xem là do sự thiếu phòng thủ chiều sâu của quân Anh.[15]

Sơ đồ cuộc tấn công của quân Đức năm 1918

Ngày hôm sau các toán Biệt kích Đức tiếp tục hoạt động mạnh khắp các phòng tuyến, sau đó là các toán quân xung kích tiến lên chiếm giữ các vị trí vừa bị làm suy yếu. Khắp phòng tuyến khối Hiệp Ước các đơn vị đều phải bỏ vị trí rút về phía sau. Tập đoàn quân số 5 của Anh và Tập đoàn quân số 1 của Pháp đều phải rút lui về bờ Tây sông Somme. Thảm họa của quân Hiệp Ước chính là do Thống chế Henri Philippe Pétain của Pháp đã không hợp tác chặt chẽ với Thống chế Douglas Haig của Anh. Chính phủ Anh đã nghe được những hung tin chiến bại. Tình hình xem ra khẩn cấp cần có người hợp nhất các lực lượng Hiệp Ước.[10] Haig bèn đề nghị đưa viên Tham mưu trưởng quân Pháp là Ferdinand Foch lên làm Tổng tư lệnh các lực lượng Hiệp Ước, vào ngày 23 tháng 3 năm 1918.[9]

Ngày thứ ba của cuộc chiến quân Hiệp Ước đã phải lùi lại khá xa, thiệt hại nặng nề nhưng quân Đức vẫn không tiến xa được như dự kiến, kế hoạch cắt đôi liên quân Anh-Pháp rồi đánh bọc sườn quân Anh và đẩy họ ra biển vẫn không thực hiện được. Quân Đức cũng mệt mỏi, suy yếu, hao hụt nặng và thiếu tiếp liệu. Song, do thắng lợi ban đầu quá lớn của cuộc Tổng tiến công Mùa xuân 1918, Hoàng đế Wilhelm II tuyên bố ngày 24 tháng 3 là ngày hội quốc gia Đức.[13] Ngày 28 tháng 3 thì cuộc tiến quân của Đức đột ngột dừng lại gần thành phố Albert. Trên đường tiến thẳng về Amiens, quân Đức đánh chiếm làng mạc, đốt phá và cướp bóc khắp vùng cũng như tịch thu khá nhiều súng trường, súng máy, pháo các cỡ và cả xe tăng của Anh mà họ phát hiện ra.[9]

Vào ngay 3 tháng 4 năm 1918, tại Beauvais, Foch được giao quyền hợp nhất các lực lượng Hiệp Ước trên Mặt trân phía Tây và chỉ huy chiến lược trong chiến tranh. Tuy nhiên, nhiều tướng lĩnh các nước phe Hiệp Ước nắm quyền chỉ huy chiến thuật trong chiến dịch.[10] Ngày 4 tháng 4, quân Đức tiếp tục tiến công nhưng không thu được kết quả nào đáng kể.

Nguyên nhân thất bại của chiến dịch Michael chỉ có thể nói là do Đức đã mở mặt trận quá rộng và quá mệt. Vào năm 1940, Adolf Hitler cũng tiến hành 1 kế hoạch tương tự và thành công rực rỡ do những người lính của năm 1940 di chuyển bằng xe cơ giới và xe thiết giáp chứ không phải chạy bộ cũng như họ mới được từ trại huấn luyện ra chứ không phải cực nhọc chiến đấu trong chiến hào suốt 4 năm. Đồng thời thành công của quân Hiệp Ước cũng là nhờ sự hợp tác của bọn họ sau khi bầu Foch làm Tổng tư lệnh.[10]

Tổn thất của quân Đức trong 1 tháng đầu của cuộc tấn công là 230.000 người chết và bị thương.[3], phía Hiệp Ước là 255.000 người, 1.300 khẩu pháo và 200 xe tăng[4][liên kết hỏng]. Trước có ý kiến cho rằng thắng lợi ban đầu của quân Đức trong Chiến dịch Mùa Xuân năm 1918 là do sĩ khí quân Anh đang bị suy nhược, song các sử gia đã phản bác điều này: nếu quân Anh thực sự có suy sụp tinh thần thì hẳn là quân Đức sẽ toàn thắng, vì tiến trình cuộc chiến trong Mùa Thu năm 1918 thể hiện rất rõ hậu quả nghiêm trọng của sự thiếu hụt sĩ khí quân đội.[16]

Cũng trong lúc này, 250.000 quân Mỹ cũng đã có mặt ở mặt trận phía Tây nhưng tướng Pershing từ chối chưa đưa họ ra chiến trường ngay. Ông cũng không muốn các quân nhân Mỹ nằm dưới sự chỉ huy của các sĩ quan Anh-Pháp.[5]

Chiến dịch GeorgetteSửa đổi

Sau chiến dịch Michael, Ludendorff tiếp tục tung ra chiến dịch Georgette. Mục tiêu của ông là chọc thủng phòng tuyến Anh ở đoạn giữa La Basses và Armentiere ngày 9 tháng 4. Trước đó 2 ngày, pháo binh Đức đã bắn cường tập vào khu vực này bằng đạn công phá lẫn đạn hơi độc. Pháo binh vừa dứt, 25 sư đoàn Bão tố xung phong đánh chiếm dãy chiến hào ở tuyến trước trong khi 30 sư đoàn nữa xông lên chiếm giữa vị trí vừa thất thủ, họ dùng tất cả những thứ vũ khí có được, khoét sâu vào trung tâm phòng thủ của quân địch, đôi khi phải đánh cận chiến bằng dao, xẻng và cả tay không.

Binh sĩ của Sư đoàn 55 của Anh trúng hơi gas của Đức ở Flandre ngày 10 tháng 4/1918

Sương mù dày đặc đã trợ chiến hiệu quả cho quân Đức. Tuyến phòng thủ của quân Anh vỡ tan nát, họ bị đẩy lùi thêm 18km và hôm sau tới 45km. Nhưng cũng như lần trước, đà tiến của quân Đức chậm lại rồi dừng hẳn do kiệt sức và sa sút tinh thần. Tới ngày 30 tháng 4, chiến dịch kết thúc, 2 bên đều bị thiệt hại nặng. Tuy nhiên, trong khi quân Đức đang giành thắng lợi[2] thì họ bắt đầu bị sụt giảm lực lượng nghiêm trọng và quân đội Mỹ do tướng John Joseph Pershing chỉ huy đang ồ ạt ra mặt trận.

Căn cứ trên lực lượng hiện tại (gần 2,000,000 quân) thì phe Hiệp Ước đã có thể phản công.

Cuộc tấn công lần 3Sửa đổi

Sư đoàn 28 Bộ binh của Mỹ chiến đấu ở Bonvillers ngày 22 tháng 5/1918

Không chấp nhận thất bại, Ludendorff tiếp tục tung ra cuộc tiến công đợt 3 với 49 sư đoàn (có 23 sư đoàn Bão tố) ngày 27 tháng 5 trong vùng sông Aisne. Mở màn là 3.719 trọng pháo bắn 2 triệu viên đạn hơi độc và đạn trái phá lên đầu quân Hiệp Ước ở khoảng 30km giữa Chemin des Dame. Ba tiếng sau, trọng pháo im tiếng cho bộ binh xung phong. Trấn giữ vị trí này là Tập đoàn quân số 6 của Pháp do tướng Duschene chỉ huy và 3 sư đoàn Anh đã sứt mẻ trầm trọng do những trận đánh trước. Tuyến phòng thủ của quân Hiệp Ước vỡ tan và Tập đoàn quân số 7 của Đức đã vượt qua hai con sông chỉ trong 1 ngày, tạo ra một mũi dùi khoét sâu 12 dặm vào phòng tuyến phe Hiệp Ước. Ngay sau đó, họ nghiền nát 4 sư đoàn phòng ngự ở đây và 4 sư khác đang tiến tới. Hôm sau quân Hiệp Ước vẫn không ngăn được đà tiến của đối phương. Quân Đức vượt sông Aisne trong ngày đầu và hôm sau vượt tiếp sông Vesle để tới Château-Thierry cách Paris 100km.

Quân Pháp thất bại nhanh chóng làm kinh hoàng các chỉ huy khối Hiệp Ước. Tướng Ludendorff đã viết trong Nhật ký:

Thoạt đầu Ludendorff chỉ dự định lôi kéo quân dự bị Pháp ở Flandre tới tham chiến, làm suy yếu quân Anh phòng ngự ở đó. Nhưng sau khi nhìn thấy thắng lợi bất ngờ của cuộc tiến công này, ông quyết định biến cuộc tiến công giới hạn của mình thành mũi tấn công chính. Ngày 29 tháng 5 quân Đức đổ thêm quân dự bị vào mặt trận Aisne, tiến sâu qua phòng tuyến cũ của Pháp hơn 45km. Nhiều đơn vị tiên phong của Đức chỉ cách Paris 90km. Ludendorff dự định tấn công vào Chemin des Dame rồi dứt điểm hẳn cứ điểm Flandre. Vào ngày 29 tháng 5 năm 1918, quân Pháp mất Soissons về tay quân Đức.[17] Dù sao thì 2 thành phố Reims phía tay trái và Noyon phía tay phải quân Đức vẫn đứng vững khiến họ không thể nới rộng vùng kiểm soát.

Các chỉ huy quân Hiệp Ước Ferdinand Foch của Pháp, Haig của Anh, Petain của Pháp và Joseph Pershing của Mỹ năm 1918

Quân Đức tiếp tục tiến và chiều ngày 30 tháng 5 đã tới được Marne, cách Paris 40 dặm. Quân Pháp vốn đã đại bại, gần như lâm vào thảm họa. Thống chế Pétain hoảng hốt. Ông cho giảm bớt lực lượng phòng thủ ở thành cổ Verdun nhằm rút ngắn các tuyến quân, đồng thời vào ngày 31 tháng 5 năm 1918, ông khuyên Thủ tướng Pháp Georges Clemenceau nên rời khỏi Paris mà dời về Bordeaux. Tuy nhiên, lực lượng Dự bị của Pháp trở nên dồi dào. Với Foch đã nắm chắc tình hình trong tầm tay, những cuộc phản công của quân Hiệp Ước ngày càng trở nên có hiệu quả cao. Vào ngày 1 tháng 6 năm 1918, quân Đức kéo đến Château - Thierry, nhưng sau những đợt giao tranh ác liệt xung qua Villers - Côterets. Kể từ đó, sự hợp tác chặt chẽ hơn giữa quân Pháp và các đồng minh đã gây trở ngại cho các chiến sĩ Đức tại sông Marne.[17]

Petain quyết tâm không chịu thua. Trong 1 ngày ông đã điều động 16 sư đoàn tới Marne và cho các thuộc hạ biết rằng chỉ cần cầm cự ít lâu nữa là quân Mỹ sẽ tham chiến. Ngày 4 tháng 6, tại Château-Thierry, quân Mỹ được quân Pháp hỗ trợ đã chặn đứng được các đợt xung phong của Đức, vài đơn vị Đức đã vượt qua được bờ Nam sông Marne nhưng đều bị đẩy lui. Tuy chưa hiện diện đông đảo nhưng sự xuất hiện của quân Mỹ đã gia tăng đáng kể tinh thần của quân Hiệp Ước.

Do Ferdinand Foch lo ngại quân Đức kéo về đánh Paris nên ông ra lệnh cho thuộc cấp phải giữ vững phòng tuyến bằng mọi giá. Kết quả là Tập đoàn quân số 3 của Pháp do tướng Humbert chỉ huy bị thiệt hại nặng nề mà vẫn không giữ được phòng tuyến. Tập đoàn quân số 18 của Đức do Tướng Von Hutier chỉ huy thắng thế tiến sâu thêm 11km ngay trong ngày 9 tháng 6.

Tướng Petain lúc này đã thiết lập được 1 phòng tuyến thứ 2 để chờ Đức. Bị chặn lại lần nữa, quân Đức thiệt hại nặng.

Kết quả chiến dịch lần này là 130.000 quân Đức và 137.000 quân Hiệp Ước thương vong tính tới ngày 6 tháng 6. Trong khi ấy, trên Mặt trận Ý, những thắng lợi của quân Đức trong Chiến dịch Mùa xuân 1918 đã gây cho quân Áo-Hung ấn tượng đến mức mà họ mở Chiến dịch Piave[8].

Cuộc tấn công lần 4Sửa đổi

Tướng John Joseph Pershing của Mỹ

Một đợt tấn công thứ tư được tung ra nhưng trong sự tuyệt vọng hơn là niềm tin chiến thắng.[18] Mặc khác, Thượng tướng Ludendorff vẫn nghĩ rằng ông có thể đánh một đòn giáng sấm sét phá vỡ quân Anh. Tuy nhiên, để khơi dậy sĩ khí, ông đặt mật mã của chiến dịch này là Friedensturm - có nghĩa là chiến dịch hòa bình. Quân Mỹ tham chiến trên chiến trường càng lúc càng đông đảo, bổ sung ồ ạt cho các đơn vị Anh-Pháp đã bị thiệt hại nặng nề trong các chiến dịch trước.[19]

Binh sĩ Mỹ thuộc sư đoàn 166 Bộ binh đang chiến đấu ở Villers sur Fere, miền Bắc nước Pháp

Đợt tấn công thứ 4 nhắm vào Reims, lấy đây làm hướng đột phá chính. Hơn 20 sư đoàn Bão tố (thê đội 1) cùng 17 sư đoàn bộ binh (thê đội 2) được tung vào những nỗ lực cuối cùng của Ludendorff, ngoài ra quân Đức còn ném vào đợt tấn công này những cỗ pháo, xe tăng và máy bay thu được từ phe Hiệp Ước trong các đợt trước. Đợt công kích thứ 4 mở màn bằng các đợt bắn phá dữ dội của pháo binh và súng cối Đức. Tiếng pháo vừa dứt, bộ binh Đức trang bị súng tiểu liên và lựu đạn mang theo mặt nạ phòng độc xung phong dưới sự che chở của xe tăng, máy bay bay thấp để yểm trợ bộ binh và tấn công quân Hiệp Ước. Tuy nhiên, phe Hiệp Ước lại một lần nữa được dự báo trước và cuối cùng họ đã tổ chức phòng thủ kỹ lưỡng, thậm chí Tướng Foch còn cho thêm 12 sư đoàn đến tăng viện, tổng số quân Hiệp Ước lên tới gần 2 triệu binh sĩ, hơn 1,000 xe tăng và hàng trăm máy bay.[19] Ở những nơi nào quân Pháp quyết tâm tử thủ thì đều bị đánh lui và thiệt hại nặng nề còn những nơi thực hiện phương thức phòng thủ lưu động của Pétain thì quân Đức tuy chiếm được đất nhưng không tiêu diệt được quân Anh-Pháp và khi tiến ra xa khỏi tầm đạn pháo của họ thì liền bị chặn đứng, hai bên đấu súng, cận chiến giành đi giật lại từng tấc đất đến mức kiệt quệ. Nhiều đơn vị Đức chịu thiệt hại nặng nề, số binh sĩ chết và bị thương tới 168.000 người.[20] Hậu quả của cuộc tấn công cuối cùng này của quân Đức còn nghiêm trọng hơn cả Chiến dịch Nivelle đối với quân Pháp hồi năm 1917.[19]

Tới ngày 17 tháng 6 thì cuộc tấn công của Đức coi như đã thất bại - là thất bại của một nỗ lực lớn cuối cùng của Đức để chiến thắng cuộc chiến tranh[21]. Trong cuộc phản công ở Cambrai ngày 16 tháng 7 thì 18 sư đoàn bộ binh cùng 225 xe tăng đã đẩy quân Đức lùi về phía sau 6km. Đồng thời với quân Pháp, người Mỹ cũng tung ra 4 sư đoàn. Tuy bị thiệt hại nặng nhưng họ cũng đã góp phần đẩy quân Đức về bờ Bắc sông Velse. Từ đây khả năng tấn công của Đức đã hết. Cả Hoàng đế Wilhelm II, Tổng Tham mưu trưởng Hindenburg và Thượng tướng Ludendorff đều phải thừa nhận rằng nước Đức đã thất bại chiến dịch này, mặc dù họ đã giành nhiều thắng lợi vẻ vang (quân Anh đã ứng chịu nhiều thảm bại nhất trong chiến dịch này) và kiểm soát một vùng lãnh thổ rộng lớn. Nhìn chung, đây được coi là một thắng lợi chiến thuật vang dội của quân Đức, nhưng chỉ mang tính tạm thời và không thể quyết định cuộc chiến. Với phòng tuyến phe Hiệp Ước không hề bị chọc thủng, Chiến dịch Mùa Xuân 1918 là một thất bại chiến dịch và chiến lược quyết định của quân Đức[1][2]. Vốn thắng lợi lớn của quân Đức trong Chiến dịch ấy đã gây khủng hoảng cho các nước phe Hiệp Ước và buộc họ phải gia tăng nhân lực,[22] trước việc quân Mỹ càng tham chiến tích cực, sĩ khí liên quân Anh - Pháp đã được hồi phục, trong khi điều tương tự không thể nào đến với nước Đức vốn đã bị kiệt quệ.[3][23] Trước sự phản công mãnh liệt của quân Hiệp Ước[21], họ chỉ còn có thể cầm cự trước khi bị đánh bại hoàn toàn vào tháng 11 năm 1918. Chiến dịch này đã khiến cho các lực lượng vũ trang Đức bị suy sụp nghiêm trọng. Tuy nhiên, khác với những đơn vị phải tham chiến ác liệt đến mệt nghỉ và cũng khác với những người lính Đức thuộc Trung đoàn Bộ binh số 16 phải chiến đấu đằng trước chiến tuyến, và cho dù Trung đoàn List - có sự tham chiến của Adolf Hitler cũng phải mất mát đến 482 chiến sĩ - ban Tham mưu phụ trách của Bộ Chỉ huy Trung đoàn List đã không phải hứng chịu tổn thất lớn lao gì. Do đó, trong tác phẩm Mein Kampf trứ danh của ông, Hitler cho rằng Chiến dịch Mùa Xuân 1918 là một thiên anh hùng ca mãnh liệt, huy hoàng của nước Đức.[24] Dù sao đi chăng nữa, thất bại của kế hoạch Schlieffen (1914), Chiến dịch Verdun (1916) và Chiến dịch Mùa Xuân này đã góp phần gây nên sự bất mãn của nhân dân Đức đối với Kaiser và chủ nghĩa quân phiệt Phổ.[25]

Mặc dù thất bại trong Chiến dịch Tổng tấn công Mùa xuân 1918 đưa họ vào tình thế nguy kịch và khiến cho họ nắm chắc chiến bại trong tay, các Sĩ quan của họ vẫn được đào luyện nghiêm ngặt.[26][27] Trong khi thắng lợi ban đầu của cuộc Tổng tấn công Mùa xuân đã chứng tỏ với người Đức rằng "Lực lượng Bão tố" chính là giải pháp cho việc khôi phục sự cơ động trên chiến trường của họ, thất bại của Chiến dịch ấy cho thấy rằng để áp dụng tốt chiến thuật, họ cần phải tích cực phát triển thêm công nghệ và nguyên liệu.[28]

Vì sao lãnh đạo Ba Lan nói Đức 'đang biến EU thành Đế chế IV'?

Nửa năm 1918 tình hình nước Đức như thế nào
Nửa năm 1918 tình hình nước Đức như thế nào

Nguồn hình ảnh, Reuters

Chụp lại hình ảnh,

Jaroslaw Kaczynski là lãnh đạo đảng Pháp luật và Công lý cầm quyền từ 2015 tại Ba Lan, dù ông chỉ nhận thêm chức Phó thủ tướng

Năm 2021 khép lại bằng vị đắng trong quan hệ Ba Lan với chính phủ mới lên cầm quyền ở Đức.

Đó là lời phát biểu của một lãnh đạo Ba Lan, "chào đón" liên minh ba đảng lập tân chính phủ CHLB Đức với thủ tướng Olaf Scholz đứng đầu, bằng câu "Đức đang biến EU thành Đế chế IV".

Biểu tình lớn chống các biện pháp ngăn Covid ở Đức

Ba Lan: Biểu tình 'Biển Nến' vì tam quyền phân lập

Ba Lan: Chính khách 49 tuổi thành thủ tướng

Vì sao phụ nữ Ba Lan biểu tình giữa mùa dịch Covid?

Theo các báo châu Âu, phát biểu của ông Jaroslaw Kaczynski, Phó thủ tướng, lãnh đạo đảng Pháp luật và Công lý (PiS) ở Ba Lan gợi lại hình ảnh Đế chế III của Adolf Hitler.

Hàng loạt nhà bình luận ở Đức đã lên tiếng phê phán cách ví von "xúc phạm" của ông Kaczynski, 72 tuổi, theo các báo tiếng Anh hôm 24/12.

Vì sao Kaczynski lại nói như thế?

Hôm 02/12, trước khi tân thủ tướng Đức Olaf Scholz sang thăm Warsaw (12/12), nhằm bảy tỏ thiện chí với Ba Lan, ông Kaczynski, lãnh tụ phe hữu Ba Lan đã nói về 'Đế chế IV' trong một cuộc họp nội bộ.

Dù quan chức đảng PiS tìm cách giải thích khác đi và dư luận có vẻ quên sự việc nhân chuyến thăm của thủ tướng Scholz sang Ba Lan, chính ông Kaczynski ngay hôm trước Giáng Sinh đã "giáng thêm cú nữa".

Không chỉ trả lời phỏng vấn báo Ba Lan một cách công khai, ông còn cảnh báo người Ba Lan trước sức mạnh Đức.

Trả lời tờ Gazeta Polska Codzienna hôm 23/12/2021, ông Kaczynski, cựu chính khách Công đoàn Đoàn kết, lãnh tụ phái dân tộc chủ nghĩa Công giáo, đã bảo vệ quan điểm của mình.

Ông nói "gọi họ là Đế chế IV chẳng có gì xấu cả".

Theo tờ Wprost (26/12) bình luận lại vụ việc thì ông Kaczynski vẫn nói "Đế chế IV" không hàm ý là sự tiếp nối của chế độ phát-xít (Đế chế III của Adolf Hitler), mà là nói về đế quốc Đức thời xưa, Đế chế I.

Dù vậy, việc nhắc lại các đế chế Đức cũng làm nhiều người phật ý.

Nhưng điều quan trọng hơn trong phát biểu của ông Kaczynski có vẻ không chỉ liên quan đến nước Đức.

Ông cho rằng với liên minh ba đảng SPD, đảng Xanh và FDP, chính phủ Đức "đang dùng EU để xây dựng Hợp chúng quốc châu Âu (United States of Europe - như Hoa Kỳ) và thay đổi các hiệp ước EU".

Với Ba Lan và một số quốc gia khác (Kaczynski không nêu tên) thì một EU trở thành bàn đạp cho Đức thực hiện tham vọng đế quốc của mình là điều khó chấp nhận.

Nửa năm 1918 tình hình nước Đức như thế nào
Nửa năm 1918 tình hình nước Đức như thế nào

Nguồn hình ảnh, EPA

Chụp lại hình ảnh,

Người Ba Lan biểu tình phản đối chính phủ cánh hữu của Đảng PiS

"Nếu Ba Lan đồng ý để EU bị biến thành một liên bang do Berlin điều khiển thì đó là sự nô lệ mới, và chúng ta sẽ bị đẩy xuống tầm hạ cấp."

Ông dùng từ "degradowani" để nói về một tương lai cho người Ba Lan trong phương án trên.

Từ này có nghĩa rất nặng: suy thoái, hạ cấp, tới mức bị hủy diệt.

Như thế, có thể thấy Jaroslaw Kaczynski không hề lỡ lời khi nói về "âm mưu Đế chế IV" mà ông ta cho là Đức có thể thực hiện với cả khối EU.

Trái lại, quan điểm của Kaczynski và đảng PiS do ông ta lãnh đạo rất liền lạc, ít ra là từ năm 2017 trong các vấn đề EU, theo AFP.

Báo Đức, Der Spiegel viết rõ hơn: "Kaczynski cáo buộc chính phủ Scholz biến EU thành Đế chế IV". Tờ báo nhắc rằng bản thân thủ tướng Ba Lan Mateusz Morawiecki khi đón thủ tướng Đức Olaf Scholz thăm Warsaw gần đây cũng hề ngần ngại phê phán EU trước mặt khách.

Ông Scholz thăm Ba Lan để bày tỏ sự ủng hộ cho quốc gia láng giềng nằm ở biên giới phía Đông của EU trước sức ép từ Belarus và Nga trong vấn đề "dùng di dân Trung Đông" gây bất ổn cho EU.

Tuy thế, quan hệ Đức- Ba Lan từ những năm qua, nhất là sau khi PiS lên nắm quyền năm 2015, liên tục có sóng gió.

Hồi 2019, một nghị sĩ Ba Lan đột nhiên lên tiếng nói Đức phản bồi thường 850 tỷ USD vì "giết hàng triệu người Ba Lan hồi Thế Chiến 2".

Theo Reuters (26/04/2019), ông Arkadiusz Mularczyk, chủ tịch Ủy ban của Hạ viện Ba Lan chuyên về bồi thường chiến tranh, nói "không chỉ hàng triệu công dân Ba Lan bị người Đức giết, mà đất nước cũng bị tàn phá khủng khiếp thời chiến".

Trong năm qua, chính phủ do PiS lãnh đạo ở Ba Lan bị EU phê phán, thậm chí phạt tiền vì các hoạt động đơn phương hạn chế tự do báo chí và quyền phụ nữ vốn được ghi rõ trong các hiệp ước EU.

Nhiều trí thức tiến bộ của Ba Lan đã xuống đường biểu tình phản đối cách hành xử của chính quyền PiS và những phát biểu gay gắt, chia rẽ lòng người của ông Kaczynski.

Đáp trả, giới chức cánh hữu tại Ba Lan đổ cho sự "thao túng" của các nước lớn trong EU (hàm ý Pháp và Đức) nhằm "bắt nạt" các quốc gia nhỏ hơn.

Họ cũng tin vào thuyết âm mưu rằng EU muốn dùng luật và các giá trị "phi truyền thống" để làm suy yếu Ba Lan.

Sinh năm 1946, Jaroslaw Kaczynski tốt nghiệp khoa Luật, ĐH Tổng hợp Warsaw và cùng người anh em song sinh, Lech Kaczynski tham gia hoạt động đối lập chống chế độ cộng sản.

Lech Kaczynski từng bị tù thời kỳ Thiết quân luật (1981-82), và trúng cử tổng thống Ba Lan nhiệm kỳ 2005-2010. Ông tử vong trong tai nạn phi cơ ở Smolensk, Nga 04/2010.

Jaroslaw Kaczynski coi cái chết của anh mình là do một âm mưu của Nga và "các nhân vật Ba Lan phản bội gây ra".

Quan điểm nhất quán của Jaroslaw Kaczynski là chống Nga, chống Đức và phản đối Liên hiệp châu Âu trong nhiều vấn đề.

Đức luôn là 'sức mạnh trung tâm' ở châu Âu

Nửa năm 1918 tình hình nước Đức như thế nào
Nửa năm 1918 tình hình nước Đức như thế nào

Nguồn hình ảnh, Getty Images

Chụp lại hình ảnh,

Adolf Hitler nhìn mẫu xe Volkswagen cùng chủ hãng xe, ông Ferdinand Porsche (trái). Chế độ Nazi lên kế hoạch để "mỗi gia đình Đức có một xe hơi"

Tại châu Âu, sau khi La Mã cổ đại tan rã, Đế chế La Mã Thần thánh dân tộc Đức (Holy Roman Empire of the German Nation) tồn tại từ năm 800 đến 1806.

Năm 1871, Wilhelm I đánh thắng Pháp và xưng là Hoàng đế của Đế chế Đức (sau gọi là Đế chế II), với quân phiệt Phổ (Prussian militalists) làm xương sống cho bộ máy chính quyền.

Quốc gia này đánh chiếm thuộc địa ở châu Á, châu Phi và gây hấn liên tiếp với các láng giềng.

Bị thua trận trong Thế Chiến I, chế độ của Hoàng đế Wilhelm II phải giải tán nhưng theo các sử gia Đức ngày nay, tư tưởng quân phiệt thời kỳ đó trực tiếp sản sinh ra chế độ Hitler.

Đế chế III theo chủ nghĩa Nazi thực hiện các cuộc chiến tranh "giành không gian sinh tồn cho chủng tộc Aryan thượng đẳng".

Cuộc diệt chủng người Do Thái, Slavơ và chiến tranh xâm lăng mà Đế chế III tiến hành đã làm chết hàng chục triệu người trong thời gian ngắn, chừng 5 năm.

Trên thực tế, Adolf Hitler không phải là tác giả của cái tên Đế chế III, sụp đổ tháng 5/1945.

Khái niệm đó lần đầu xuất hiện năm 1923 trong sách của nhà văn bảo thủ người Đức Arthur Möller van den Bruck, một thập niên trước khi Hitler lên cầm quyền.

Hitler và quan chức đảng Nazi còn gọi chế độ của họ là Đế chế Ngàn năm (Tausendjähriges Reich), thể hiện tham vọng bá chủ toàn cầu.

Hiến pháp Đức ngày nay lên án chế độ Nazi và đề cao các giá trị dân chủ, nhân quyền.

Đức là quốc gia đông dân nhất, nền kinh tế lớn nhất EU nhưng chấp nhận tự hạn chế về quân sự và chính trị.

Nửa năm 1918 tình hình nước Đức như thế nào
Nửa năm 1918 tình hình nước Đức như thế nào

Chụp lại hình ảnh,

Hoàng đế Wilhelm II của Đức đã bị lật đổ năm 1918 và Đế chế II tan rã, mở đường cho nền cộng hòa, gọi là CH Weimar

Dù vậy, một số người tại Đông Âu và cả ở Anh, tin vào điều họ cho là một xu hướng của tương lai: Đức sẽ phục hồi vị thế truyền thống, thậm chí tái vũ trang, đe dọa hòa bình châu Âu.

Cố thủ tướng Anh, Margaret Thatcher khi còn tại chức cũng bày tỏ lo ngại về 'một nước Đức thống nhất sẽ quá hùng mạnh'.

Tuy nhiên, dù e dè Đức, ít có chính khách Phương Tây nào dùng cách nói như của ông Kaczynski để thể hiện thái độ.

Tân thủ tướng Đức, Olaf Scholz đang phải đối mặt với khủng hoảng biên giới Ukraine với Nga, cũng như quan hệ ngày càng căng thẳng với Trung Quốc.

Xem thêm về Đức:

LS Nguyễn Văn Đài nói lý do sang Đức

Nước Đức chia tay Angela Merkel có mạnh mẽ hơn trước?

Chuyện đốt pháo giao thừa ở Ba Lan