Tại sao phải điều chỉnh hồi tố

Tại sao phải điều chỉnh hồi tố

Chuyện doanh nghiệp bốc hơi lợi nhuận sau kiểm toán, thậm chí chuyển từ lãi sang lỗ, không phải là điều hiếm hoi trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Quá khứ cho thấy, không ít doanh nghiệp ban đầu công bố lãi lớn và giá cổ phiếu tăng vọt, nhưng báo cáo kiểm toán sau đó đưa ra những ý kiến loại trừ hoặc yêu cầu điều chỉnh bút toán khiến lợi nhuận suy giảm mạnh, kéo giá cổ phiếu lao dốc gây biết bao thiệt hại cho các nhà đầu tư.

Theo hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS), chuẩn mực số 29 - thay đổi chính sách kế toán, ước tính kế toán, có giải thích rằng: "Điều chỉnh hồi tố là việc điều chỉnh những ghi nhận, xác định giá trị và trình bày các khoản mục của báo cáo tài chính như thể các sai sót của kỳ trước chưa hề xảy ra. Trong đó, các sai sót bao gồm sai sót do tính toán, áp dụng sai các chính sách kế toán, bỏ quên, hiểu hoặc diễn giải sai các sự việc và gian lận".

Quy định cũng có nêu rõ, doanh nghiệp phải điều chỉnh hồi tố những sai sót trọng yếu liên quan đến các kỳ trước vào báo cáo tài chính phát hành ngay sau thời điểm phát hiện ra sai sót bằng cách: (a) Điều chỉnh lại số liệu so sánh nếu sai sót thuộc kỳ lấy số liệu so sánh; hoặc (b) Điều chỉnh số dư đầu kỳ của tài sản, nợ phải trả và các khoản mục thuộc vốn chủ sở hữu của kỳ lấy số liệu so sánh, nếu sai sót thuộc kỳ trước kỳ lấy số liệu so sánh.

Chính vì vậy, việc một doanh nghiệp điều chỉnh hồi tố cho một thời gian dài và sự biến động quá lớn như vậy khiến nhà đầu tư có lý do để nghi ngờ doanh nghiệp đã không phản ánh trung thực kết quả báo cáo tài chính của những năm trước đây. Đáng lưu ý là trong những trường hợp như vậy, phía các công ty kiểm toán chỉ đơn thuần đưa ra ý kiến loại trừ với lý do chưa thu thập được đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp liên quan đến các ước tính của doanh nghiệp, khiến không ít nhà đầu tư bối rối.

Về cơ bản, các doanh nghiệp thường sử dụng các bút toán xử lý trích lập dự phòng hoặc hoàn nhập dự phòng để tác động đến lợi nhuận của doanh nghiệp trong năm tài khóa hoặc điều chỉnh hồi tố cho những năm trước đó. Theo nguyên tắc kế toán, trích lập dự phòng là một khoản chi phí không bằng tiền (tiền đã ra khỏi doanh nghiệp từ lúc cho khách hàng/đối tác vay), đó chỉ đơn thuần là một bút toán làm ảnh hưởng đến tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp

Cụ thể, khi công ty trích lập thì trên bảng cân đối kế toán, tài sản trích lập giảm dẫn tới tổng tài sản giảm, tổng nguồn vốn giảm tương ứng. Trên báo cáo thu nhập sẽ ghi nhận tăng chi phí trích lập tương ứng và làm giảm lợi nhuận. Ngược lại, hoàn nhập dự phòng sẽ làm tăng tài sản - nguồn vốn và tăng lợi nhuận.

Có nhiều khoản mục tài sản có thể trích lập dự phòng, đó có thể là các khoản đầu tư, cho vay, khoản phải thu, hàng tồn kho... Thông thường, các doanh nghiệp sẽ xử lý trích lập/hoàn nhập dự phòng ở các khoản phải thu, vì đây là khoản mục đánh giá có tính chất định tính nhiều hơn và không có nhiều cơ sở vững chắc để xem xét, còn hàng tồn kho và các khoản đầu tư dễ xác định con số dự phòng hơn từ phía các công ty kiểm toán.

Như vậy, khi doanh nghiệp muốn giảm lợi nhuận sẽ tìm cách tăng dự phòng khoản phải thu và ngược lại. Chính các khoản dự phòng này cũng là nguồn lợi nhuận để dành nếu doanh nghiệp thu được, hoặc thậm chí doanh nghiệp chỉ cần đánh giá có khả năng thu hồi trở lại thì cũng sẽ giúp được hoàn nhập dự phòng, tức con số phải trích sẽ thấp hơn số đã trích lập trước đây. Tất nhiên là việc trích lập hay hoàn nhập sẽ phải theo những chuẩn mực, tuy nhiên chuẩn gì thì cũng phụ thuộc vào con người và có kẽ hở để lách.

Với trường hợp doanh nghiệp kể trên, doanh nghiệp này lẽ ra đã phải trích lập dự phòng cho các khoản phải thu từ những năm trước, nhưng doanh nghiệp đã không trích lập để vẫn có thể báo lãi và né án hủy niêm yết trước đây, bất chấp công ty kiểm toán nêu ý kiến ngoại trừ ba năm liên tiếp về các khoản phải thu. Rồi giờ đây doanh nghiệp mới quay lại điều chỉnh hồi tố báo cáo những năm trước theo hướng phải trích lập dự phòng lớn và ghi nhận lỗ lớn. Và chính nguồn dự phòng lớn này có thể giúp doanh nghiệp báo lãi trở lại cho những năm sau này khi được hoàn nhập trở lại, còn về thực chất hoạt động cốt lõi của doanh nghiệp vẫn có thể đang chìm trong khó khăn.

  • Chứng khoán Việt Nam vào nhóm có mức sinh lời cao nhất thế giới

  • Chứng khoán: Liệu khối ngoại có sớm quay lại mua ròng?

  • Bank of America dự báo giá mục tiêu cổ phiếu MSN 198.600đ

  • FED tăng lãi suất nhiều lần trong năm nay có ảnh hưởng Việt Nam?

  • Chứng khoán: Dòng nào sẽ dẫn dắt thị trường phục hồi?

Trong cuộc sống hằng ngày, khi theo dõi tin tức trên sách báo cũng như trên truyền hình, chúng ta thường nghe nhiều về hồi tố. Tuy nhiên không phải ai cũng hiểu rõ hồi tố là gì?.

Để nhằm giúp quý độc giả có thể hiểu hơn về vấn đề này, chúng tôi xin gửi đến quý độc giả những thông tin dưới bài viết sau.

Hồi tố là gì?

Hồi tố là thuật ngữ được sử dụng nhiều trong lĩnh vực pháp lý và kế toán, trong hệ thống pháp luật Việt Nam, không có khái niệm cụ thể hồi tố là gì. Theo tử điển Tiếng Việt, “hồi tố” mang ý nghĩa là trở về trước. Như vậy, có thể hiểu khái quát, hồi tố là trở về trước.

Hồi tố là gì trong lĩnh vực pháp lý?

Trong lĩnh vực pháp lý, hồi tố được hiểu là một dạng hiệu lực pháp luật của văn bản quy phạm pháp luật, về nguyên tắc thì những hành vi, những quan hệ xã diễn ra trong thời gian nào thì sẽ chịu sự điều chỉnh của văn bản quy phạm pháp luật đang có hiệu lực tại thời gian đó.

Tuy nhiên, trong một số trường hợp vì mục đích nhân đạo mà quy định của pháp luật có hiệu lực hồi tố (còn gọi là hiệu lực trở về trước). Cụ thể Điều 152 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định về hiệu lực trở về trước của văn bản quy phạm pháp luật như sau:

1. Chỉ trong trường hợp thật cần thiết để bảo đảm lợi ích chung của xã hội, thực hiện các quyền, lợi ích của tổ chức, cá nhân được quy định trong luật, nghị quyết của Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan trung ương mới được quy định hiệu lực trở về trước.

2. Không được quy định hiệu lực trở về trước đối với các trường hợp sau đây:

a) Quy định trách nhiệm pháp lý mới đối với hành vi mà vào thời điểm thực hiện hành vi đó pháp luật không quy định trách nhiệm pháp lý;

b) Quy định trách nhiệm pháp lý nặng hơn.

3. Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp, chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt không được quy định hiệu lực trở về trước.

Tại sao phải điều chỉnh hồi tố

Hồi tố là gì trong lĩnh vực kế toán?

Hồi tố trong lĩnh vực kế toán là việc điều chỉnh những ghi nhận, xác định giá trị và trình bày các khoản mục của báo cáo tài chính như thể các sai sót của kỳ trước chưa hề xảy ra; áp dụng một chính sách kế toán mới đối với các giao dịch, sự kiện phát sinh trước ngày phải thực hiện các chính sách đó.

Định nghĩa trên căn cứ theo chuẩn mực 29 tại Quyết định 12/2005/QĐ- BTC của Bộ trưởng Bộ Tài chính ngày 15/02/2005 về việc Ban hành và công bố sáu (06) chuẩn mực kế toán Việt Nam (đợt 4).
Hồi tố trong lĩnh vực kế toán được áp dụng trong 3 trường hợp sau:

– Thay đổi chính sách kế toán: Là việc điều chỉnh các nguyên tắc, cơ sở và phương pháp kế toán cụ thể được doanh nghiệp áp dụng trong việc lập và trình bày báo cáo tài chính.

– Thay đổi ước tính kế toán: Là việc điều chỉnh giá trị ghi sổ của tài sản, nợ phải trả hoặc giá trị tiêu hao định kỳ của tài sản được tạo ra từ việc đánh giá tình trạng hiện thời và lợi ích kinh tế trong tương lai cũng như nghĩa vụ liên quan đến tài sản và nợ phải trả đó. Những thay đổi trong ước tính kế toán do có các thông tin mới không phải là sửa chữa các sai sót.

– Sai sót kế toán.

Hiệu lực hồi tố trong pháp luật hình sự

Sau khi tìm hiểu một số định nghĩa liên quan đến hồi tố là gì?, sau đây chúng tôi sẽ giới thiệu thêm tới quý vị về hiệu lực hồi tố trong pháp luật hình sự.

Dù trong Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 không hề có quy định tường minh thế nào là hồi tố. Tuy nhiên, tại Khoản 2, Khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 quy định về hiệu lực của Bộ luật Hình sự về thời gian như sau:

[…]2. Điều luật quy định một tội phạm mới, một hình phạt nặng hơn, một tình tiết tăng nặng mới hoặc hạn chế phạm vi áp dụng án treo, miễn trách nhiệm hình sự, loại trừ trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, xóa án tích và quy định khác không có lợi cho người phạm tội, thì không được áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật đó có hiệu lực thi hành.

3. Điều luật xóa bỏ một tội phạm, một hình phạt, một tình tiết tăng nặng, quy định một hình phạt nhẹ hơn, một tình tiết giảm nhẹ mới hoặc mở rộng phạm vi áp dụng án treo, miễn trách nhiệm hình sự, loại trừ trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, tha tù trước thời hạn có điều kiện, xóa án tích và quy định khác có lợi cho người phạm tội, thì được áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật đó có hiệu lực thi hành.

Như vậy, có thể thấy, pháp luật hình sự áp dụng hiệu lực hồi tố (hay hiệu lực trở về trước) trong trường hợp có lợi cho người phạm tội (theo khoản 3 nêu trên), tạo điều kiện cho người phạm tội cải tạo và hoàn lương.

Hiệu lực hồi tố trong pháp luật dân sự

Dù trong pháp luật dân sự không có quy định tường minh thế nào là hồi tố. Tuy nhiên, tại Điều 1 Nghị Quyết 103/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật tố tụng dân sự có quy định:

Kể từ ngày Bộ luật tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 có hiệu lực thi hành (ngày 01 tháng 7 năm 2016):

1. Đối với những vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động đã được Tòa án thụ lý trước ngày 01 tháng 7 năm 2016, nhưng kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2016 mới giải quyết theo thủ tục sơ thẩm thì áp dụng các quy định của Bộ luật này để giải quyết;

2. Đối với những vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động đã được Tòa án giải quyết theo thủ tục sơ thẩm trước ngày 01 tháng 7 năm 2016, nhưng kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2016 mới giải quyết theo thủ tục phúc thẩm thì áp dụng các quy định của Bộ luật này để giải quyết;

3. Đối với những bản án, quyết định dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động đã có hiệu lực pháp luật mà bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm trước ngày 01 tháng 7 năm 2016 nhưng kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2016 mới giải quyết theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm thì áp dụng các quy định của Bộ luật này để giải quyết;

4. Đối với những bản án, quyết định dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động đã có hiệu lực pháp luật trước ngày 01 tháng 7 năm 2016 mà kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2016 người có thẩm quyền kháng nghị mới kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm, thì căn cứ để thực hiện việc kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm và việc giải quyết theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm được thực hiện theo quy định của Bộ luật này;

5. Đối với những vụ việc hôn nhân và gia đình đã được Tòa án thụ lý giải quyết trước ngày 01 tháng 7 năm 2016 thì Tòa án đã thụ lý tiếp tục giải quyết theo thủ tục chung mà không chuyển cho Tòa gia đình và người chưa thành niên giải quyết;

6. Khi giải quyết vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, Tòa án tiếp tục áp dụng quy định của các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành về án phí, lệ phí Tòa án, chi phí tố tụng khác cho đến khi có quy định mới của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Đối với vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động được giải quyết theo thủ tục rút gọn thì áp dụng mức án phí thấp hơn so với mức án phí áp dụng đối với vụ án giải quyết theo thủ tục thông thường.

Như vậy, đối với những trường hợp trên, hiệu lực hối tố (hay hiệu lực trở về trước) của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 được áp dụng.

Những trường hợp không áp dụng hồi tố

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 152 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015 không áp dụng hồi tố trong các trường hợp sau:

– Quy định trách nhiệm pháp lý mới đối với hành vi mà vào thời điểm thực hiện hành vi đó pháp luật không quy định trách nhiệm pháp lý

Theo Điều 2- Bộ luật hình sự, chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự. Theo Điều 7 – Bộ luật hình sự thì điều luật áp dụng đối với một hành vi phạm tội là điều luật đang có hiệu lực thi hành khi hành vi ấy được thực hiện.[2]

Ví dụ:  Bộ luật hình sự 2015 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018 cho nên mọi hành vi phạm tội xảy ra từ ngày 01/01/2018 trở về sau đều bị xử lí theo quy định pháp luật hiện hành.Đối với những hành vi nào mà Bộ luật hình sự trước đó không quy định là tội phạm thì không được phép đưa ra truy tố xét xử.

– Quy định trách nhiệm pháp lý nặng hơn

Mục đích của việc không áp dụng nguyên tắc hồi tố là tránh tình trạng “ex post facto” nhằm đặt bị cáo vào tình thế bất lợi.

– Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp, chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính – kinh tế

Như đã nói ở trên, do việc áp dụng nguyên tắc hồi tố, bất hồi tố chỉ được áp dụng trong pháp luật hình sự. Vì vậy, những chủ thể trên không có đủ thẩm quyền ban hành văn bản áp dụng nguyên tắc trên.

Trường hợp áp dụng hiệu lực hồi tố

Vì những lý do nhân đạo mà những quy định của pháp luật hiện hành khoan hồng hơn, có lợi hơn với người phạm tội so với luật cũ. Đồng thời do sự cần thiết bảo vệ lợi ích Nhà nước của xã hội và lợi ích của công dân thì được phép áp dụng hiệu lực hồi tố.

Cụ thể, trong trường hợp luật xoá bỏ một tội phạm, một hình phạt, một tình tiết tăng nặng, quy định một hình phạt nhẹ hơn, một tình tiết giảm nhẹ mới hoặc mở rộng phạm vi áp dụng án treo, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, xoá án tích và các quy định khác có lợi cho người phạm tội, thì được áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật đó có hiệu lực thi hành.

Trên đây, là toàn bộ nội dung liên quan đến hồi tố là gì? và các nội dung liên quan đến hồi tố